|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 70/2024/HS-ST Ngày 25 tháng 9 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Bờ - bà Trương Thị Thu Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thảo Vy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Bà Trương Bảo Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Văn Đ, sinh năm 1959; nơi sinh: Huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn V (đã chết) và bà Lê Thị B (đã chết); bị cáo có vợ tên Trần Thị L và có 06 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; về nhân thân: Chưa phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật nào khác; bị cáo đang tại ngoại và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Trần Thị T, sinh năm 1963; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại Trần Thị T gồm có:
- Cao Văn C, sinh năm 1982; nơi cư trú: Ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt)
- Cao Chí T1, sinh năm 1984; nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt)
- Cao Văn Đ1, sinh năm 1988; nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt)
- Cao Thị Cẩm L1, sinh năm 1989; nơi cư trú: Ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt)
- Cao Thị C1, sinh năm 1990; nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Phạm Văn T2, sinh năm 1979; nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt)
- Phạm Văn A, sinh năm 1988; nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt)
- Lê Thị Bích D, sinh năm 2003; nơi cư trú: Khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (có đơn xin vắng mặt)
- Chiêm Thị H, sinh năm 1975; nơi cư trú: Khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (có đơn xin vắng mặt)
- Trần Thị Cẩm T3, sinh năm 1987; nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt)
- Tổng Công ty Cổ phần B1; địa chỉ trụ sở: Tầng E số B C, phường C, quận Đ, Thành phố Hà Nội. Người đại diện tham gia tố tụng: Ông Huỳnh Kim P, chức vụ: Chuyên viên, theo giấy giới thiệu ngày 24/9/2024 (có mặt)
- Công ty Cổ phần B2; địa chỉ trụ sở: Tầng D, CR3-04A, số A T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt)
- Người làm chứng được triệu tập đến phiên tòa: Đinh Long P1 (vắng mặt), Lại Thị Ngọc D1 (vắng mặt), Trương Minh Q (vắng mặt), Nguyễn Duy T4 (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 28 phút ngày 25/5/2024, Trần Văn Đ điều khiển xe môtô biển số 67D1-319.09 chở Trần Thị T ngồi phía sau, lưu thông trên Quốc lộ I theo hướng L - C, khi đến khu vực khóm B, thị trấn C, huyện C thì Đúng phát hiện xe môtô biển số 67D2-256.60 do Lê Thị Bích D điều khiển chạy ngược chiều, cặp lề đường bên phải (hướng L - C), nên Đ điều khiển xe ra ngoài đường theo hướng xe chạy để tránh, làm xe môtô của Đúng va chạm vào phần hông bên phải của xe ô tô tải biển số 95C-052.42 do Phạm Văn A điều khiển chạy cùng chiều, làm xe của Đ ngã xuống đường, T ngồi phía sau ngã vào bên phải xe ô tô tải biển số 95C-052.42 và bị bánh xe cán qua người tử vong. Riêng Đ bị sây sát nhẹ. Sau khi sự việc xảy ra, Đ và Phạm Văn T2 (chủ sở hữu xe ô tô tải) đã hỗ trợ, bồi thường cho gia đình bị hại Thê số tiền 70.000.000 đồng. Ngày 08/7/2024, Đ bị khởi tố, điều tra.
- Tại Bản kết luận giám định tử thi số 696/KL-KTHS ngày 25/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A xác định: Nguyên nhân chết của bị hại Trần Thị T do “Sốc đa chấn thương, mất máu cấp”.
- Tại Bản kết luận giám định số 764/KL-KTHS ngày 30/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A xác định: Xe mô tô biển số 67D1-319.09 va chạm với xe ô tô biển số 95C-052.42 trước, sau đó va chạm với xe mô tô chạy ngược chiều (biển số 67D2-256.60). Có trích xuất 18 (Mười tám) ảnh từ dữ liệu 01 tập tin video lưu trữ trong đĩa DVD (ký hiệu A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C, tỉnh An Giang gửi giám định, chi tiết thể hiện trong Phụ lục gồm 10 trang A4 kèm theo Bản kết luận giám định.
- Tại Biên bản về việc kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở ngày 25/5/2024 của Phòng C - Công an tỉnh A, đối với Trần Văn Đ, kết quả kiểm tra: Nồng độ cồn trong hơi thở là 0,00 mg/1 khí thở.
- Tại Phiếu xét nghiệm chất gây nghiện 4 chất (MET-THC-MDMA-MOP) ngày 25/5/2024 của Bệnh viện đa khoa Huỳnh Trung D2, đối với Trần Văn Đ kết quả: NEGATIVE (âm tính).
- Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản khám nghiệm phương tiện ngày 25/5/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C, ghi nhận:
- Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông nằm trên đoạn đường thẳng thuộc đường hai chiều, được phân chia bởi vạch tim đường màu vàng đứt nét, mặt đường nhựa có chiều rộng là 09m52, gần khu vực xảy ra tai nạn có đoạn giao nhau với hẻm Y.
- Xe ô tô tải biển số 95C-052.42: Mặt ngoài lốp xe phía trước bên phải có vết trượt, kích thước (80x3) cm, điểm gần nhất cách văn bơm là 28cm. Mặt ngoài cản hông bên phải phía dưới có vết trượt xước bám dính tạp chất màu cam - trắng, kích thước (23,2x2,2) cm, đo khoảng cách từ điểm thấp nhất cách mặt đất là 45cm. Má ngoài lốp xe phía sau bên phải tại dòng chữ "MUSCLE" có vết trầy xước bám dính tạp chất màu cam - trắng, kích thước (12,5x2,2) cm, hướng từ tâm trục bánh xe ra ngoài mặt lăn, tại vị trí 150/C47K có vết trượt mất bụi, kích thước (20x5,3) cm, hướng từ trong ra ngoài mặt lăn. Má lốp bên phải phía sau bên trong có bám nhiều dấu vết màu nâu nghi máu và mô cơ thể người. Mặt trong chắn bùn phía sau bên phải có bám nhiều dấu vết màu nâu, nghi máu và mô cơ thể người.
- Xe mô tô biển số 67D1-319.09: Gương chiếu hậu bên trái xe bị gãy mất. Đầu tay thắng bên trái bị trầy xước, kích thước (1,2x0,7) cm, bám dính nhiều tạp chất màu nâu, đo khoảng cách mặt đất là 91,5 cm. Đầu tay cầm bên trái bị trầy xước kim loại. Yếm chắn gió bên trái bị trầy xước, kích thước (8,5x0,5) cm. Bên trái chắn bùn trước bị trầy xước, kích thước (2,5x3) cm. Gác chân chống phía trước bên trái bị mài mòn bong tróc cao su, kích thước (6x1) cm. Ốp sườn xe bên trái có vết xước màu đen, kích thước (10x4,5) cm, đo khoảng cách từ điểm thấp nhất cách mặt đất là 46 cm. Phần đuôi cản nâng xe có vết bong tróc cao su, trầy xước kim loại có bám tạp chất màu đen, kích thước (6x1,3) cm.
- Xe mô tô biển số 67D2-256.60: Đầu tay cầm bên phải có dấu vết tạp chết màu trắng. Bên phải chắn bùn phía trước xe có vết trượt kích thước (24x5,5) cm. Mặt ngoài ốp bảo vệ bộ phận giảm thanh có vết trượt xước lau sạch bụi, kích thước (20x6,5)cm, đo khoảng cách từ điểm thấp nhất cách mặt đất là 36 cm.
Các tài sản, vật chứng, tài liệu thu giữ trong vụ án gồm:
- 01 xe ô tô tải và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 95C-052.42 do Phạm Văn T2 đứng tên chủ sở hữu; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc và 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe ô tô biển số 95C-052.42 (đã tiến hành trao trả cho Phạm Văn T2 theo biên bản ngày 05/7/2024).
- 01 giấy phép lái xe hạng C tên Phạm Văn A (đã tiến hành trao trả cho Phạm Văn A theo biên bản ngày 05/7/2024).
- 01 xe mô tô và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 67D1-319.09 do Trần Thị Cẩm T3 đứng tên chủ sở hữu; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc (đã tiến hành trao trả cho Trần Thị Cẩm T3 theo biên bản ngày 11/7/2024).
- 01 xe mô tô biển số 67D2-256.60 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe tên Chiêm Thị H (đã chuyển đến Phòng C - Công an tỉnh A theo biên bản ngày 10/7/2024).
- 01 giấy phép lái xe hạng A1 tên Trần Văn Đ.
Trong quá trình điều tra và truy tố, những người tham gia tố tụng trong vụ án đã khai như sau:
- Bị cáo Trần Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội phù hợp nội dung vụ án, phù hợp lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Đúng đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại 20.000.000 đồng.
- Cao Thị Cẩm L1 (con ruột của bị hại Trần Thị T) trình bày: Sau khi sự việc xảy ra L1 đại diện cho gia đình bị hại thỏa thuận và nhận số tiền 70.000.000 đồng, trong đó nhận của Trần Văn Đ 20.000.000 đồng và nhận của Phạm Văn T2 50.000.000 đồng. L1 không yêu cầu xử lý hình sự đối với Đúng, không yêu cầu Đúng phải bồi thường thêm.
- Phạm Văn T2 trình bày: Xe ô tô biển số 95C-052.42 do T2 đứng tên chủ sở hữu. Ngày 25/5/2024, T2 thuê Phạm Văn A lái xe chở trái cây giao cho khách tại Cửa khẩu Quốc tế T6. Qua sự việc, T2 đã hỗ trợ cho gia đình bị hại Trần Thị T với số tiền 50.000.000 đồng và không có yêu cầu gì.
- Trần Thị Cẩm T3 trình bày: Xe mô tô biển số 67D1-319.09 do T3 đứng tên chủ sở hữu. Ngày 25/5/2024, T3 có cho cha ruột là Trần Văn Đ mượn. Qua sự việc, xe mô tô chỉ bị hư hỏng nhẹ và đã nhận lại xe nên không yêu cầu gì.
- Huỳnh Kim P (Đại diện Công ty B3) trình bày: Xe mô tô 67D1-319.09 có tham gia bảo hiểm của Công ty B3 tại thời điểm ngày 25/5/2024 xe vẫn còn hạn bảo hiểm, mức bồi thường tối đa là 7.000.000 đồng/người/vụ.
- Lê Quang Minh P2 (Đại diện Công ty cổ phần B2) trình bày: Xe ô tô biển số 95C-052.42 có tham gia bảo hiểm của Công ty cổ phần B2 tại thời điểm ngày 25/5/2024 xe vẫn còn hạn bảo hiểm, mức bồi thường tối đa là 150.000.000 đồng/1 người/vụ tai nạn.
- Phạm Văn A, Lê Thị Bích D, Đinh Long P1, Chiêm Thị H, Trương Minh Q, Lại Thị Ngọc D1, Nguyễn Duy T4, trình bày phù hợp với nội dung vụ án.
Tại bản Cáo trạng số: 59/CT-VKSCP ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú: Truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Châu Phú để xét xử bị cáo Trần Văn Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Trần Văn Đ khai nhận phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố. Bị cáo thừa nhận nội dung bản Cáo trạng truy tố đối với bị cáo là đúng, bị cáo nhận tội, không tranh luận; xin nhận lại 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên bị cáo. Lời nói sau cùng, bị cáo nhận thấy ăn năn hối cải, xin lỗi gia đình bị hại, xin được hưởng án treo.
Người đại diện hợp pháp của bị hại, bà Cao Thị Cẩm L1 trình bày phù hợp với lời khai của mình trong giai đoạn điều tra, truy tố. Việc bồi thường, khắc phục hậu quả đã thỏa thuận và giải quyết xong, nay xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ; không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác.
Bà Trần Thị Cẩm T3 trình bày phù hợp với lời khai của mình trong giai đoạn điều tra, truy tố. Bà T3 đã nhận lại xe mô tô biển số 67D1-319.09, không yêu cầu bồi thường gì. Riêng về việc bồi thường với Công ty B3 hai bên sẽ tự thỏa thuận giải quyết sau, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Ông Huỳnh Kim P, đại diện Công ty B3, trình bày phù hợp với lời khai của mình trong giai đoạn điều tra, truy tố. Công ty đang thực hiện các thủ tục để bồi thường bảo hiểm cho bà Trần Thị Cẩm T3 theo đúng quy định, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú thực hiện quyền công tố, giữ nguyên quyết định như Cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, Viện kiểm sát đề nghị:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Trần Văn Đ từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (H1) năm tù; cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 (Ba) năm đến 04 (Bốn) năm.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về biện pháp tư pháp, đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng như sau: Trả lại cho bị cáo Đ 01 (Một) giấy phép lái xe hạng A1, số AA745574 mang tên Trần Văn Đ do Sở Giao thông vận tải tỉnh A cấp ngày 26/10/2006.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã tự thỏa thuận bồi thường xong, không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Trong giai đoạn điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã có lời khai ở Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo trong giai đoạn điều tra và nội dung vụ án, nên việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về trách nhiệm hình sự:
[2.1] Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát; phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Bản kết luận giám định tử thi số 696/KL-KTHS ngày 25/5/2024, Bản kết luận giám định số 764/KL-KTHS ngày 30/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A; Biên bản về việc kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở ngày 25/5/2024 của Phòng C - Công an tỉnh A, Phiếu xét nghiệm chất gây nghiện 4 chất (MET-THC-MDMA-MOP) ngày 25/5/2024 của Bệnh viện Đ2, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản khám nghiệm phương tiện ngày 25/5/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C và các vật chứng thu giữ được trong vụ án. Do đó có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 25/5/2024, trên tuyến Quốc lộ I thuộc khu vực khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang, Trần Văn Đ đã có hành vi điều khiển xe môtô biển số 67D1-319.09 chở Trần Thị T ngồi sau theo hướng L - C, đã vượt xe không đảm bảo an toàn nên va chạm vào xe ô tô tải biển số 95C-052.42 do Phạm Văn A điều khiển, đang lưu thông cùng chiều phía sau, làm xe do Đúng điều khiển bị ngã vào bên phải xe ô tô tải biển số 95C-052.42. Hậu quả làm Trần Thị T bị xe ô tô tải cán lên người tử vong.
[2.2] Xét thấy, bị cáo đang lái xe lưu thông theo hướng L - C, thấy được phía trước có 01 xe mô tô đang chạy ngược chiều và 01 xe mô tô giao hàng đang đậu cặp lề đường bên phải (hướng L - C), bị cáo đã điều khiển xe ra hướng tim đường để vượt xe nhưng không có tín hiệu còi, đèn xin vượt, không chú ý quan sát xe đang chạy cùng chiều phía sau, khi vượt xe có chướng ngại vật phía trước và có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, là không đảm bảo an toàn giao thông, dẫn đến xe của bị cáo điều khiển bị va chạm trước vào xe ô tô tải gây tai nạn giao thông, xâm phạm đến tính mạng của nạn nhân. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo khoản 23 Điều 8, Điều 14 và Điều 17 của Luật Giao thông đường bộ.
[2.3] Bị cáo Trần Văn Đ là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã được đào tạo về lái xe và được cấp giấy phép lái xe hạng A1 nên nhận thức được các quy tắc an toàn khi tham gia giao thông. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại tính mạng của bị hại, gây mất an toàn giao thông đường bộ. Như vậy, hành vi của bị cáo Trần Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[2.4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nhận thấy: Xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ khi tham gia giao thông. Khi va chạm với phương tiện giao thông khác thường gây ra hậu quả rất nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe và tài sản, nên người điều khiển xe phải trải qua thời gian đào tạo để hiểu rõ về pháp luật giao thông và đủ kỹ năng điều khiển xe nhằm mục đích đảm bảo an toàn cho người tham gia giao thông, kể cả người điều khiển xe và người ngồi phía sau xe. Việc vượt xe không an toàn dẫn đến tai nạn giao thông, gây mất mát, đau thương cho gia đình bị hại, gây hoang mang và lo sợ cho người tham gia giao thông khi chứng kiến vụ tai nạn xảy ra. Do đó, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tương xứng để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung, nhắc nhở người tham gia giao thông cần chấp hành nghiêm luật giao thông đường bộ.
[2.5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, nhận thấy: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo quy định tại các điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Riêng đối với bị cáo T5 được áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
[2.6] Xét thất, đối với bị cáo T5 có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; có nơi cư trú rõ ràng; có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, chấp hành tốt lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo T5 đang học lớp 12 THPT. Xét thấy, nếu không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Đối chiếu với các quy định của Nghị quyết số ị quyết 02/2018/NQ-HĐTP" \t "_blank" 02/2018/NQ-HĐTPngày 15/5/2018 và Nghị quyết số ị quy ết 01/2022/NQ-HĐTP" \t "_blank" 01/2022/NQ-HĐTPngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bị cáo T5 được hưởng án treo, thời gian thử thách bằng 02 lần mức hình phạt tù áp dụng đối với bị cáo, được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đối với bị cáo L2 không được hưởng án treo nhằm đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.
[2.7] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[2.8] Đối với Lê Thị Bích D, Đinh Long P1 có hành vi điều khiển xe đi ngược chiều, đỗ xe ở lòng đường đô thị gây cản trở giao thông; Chiêm Thị H giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển xe tham gia giao thông. Đây là những hành vi vi phạm pháp luật hành chính, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C có công văn đề nghị Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ Công an tỉnh A quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với D, P1 và H là có căn cứ.
[3] Về biện pháp tư pháp:
[3.1] Đối với các tài sản, vật chứng, tài liệu gồm: 01 xe ô tô tải và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 95C-052.42 do Phạm Văn T2 đứng tên chủ sở hữu; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc và 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe ô tô biển số 95C-052.42; 01 giấy phép lái xe hạng C tên Phạm Văn A; 01 xe mô tô và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 67D1-319.09 do Trần Thị Cẩm T3 đứng tên chủ sở hữu; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc. Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng xe, là đúng quy định tại điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3.2] Đối với 01 (Một) giấy phép lái xe ô tô hạng A1 mang tên Trần Văn Đ, không phải là vật chứng, do không áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định nên cần trả lại cho bị cáo.
[3.3] Về bồi thường thiệt hại: Người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp các bên không tự thỏa thuận được về bồi thường thiệt hại phát sinh theo hợp đồng bảo hiểm thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự.
[4] Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm do thuộc trường hợp người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, Điều 38, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ: 01 (Một) năm tù. Cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/9/2024).
Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Trần Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Trần Văn Đ có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục đối với bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
(Đã giải thích quy định về án treo cho bị cáo).
Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Trả lại cho bị cáo Trần Văn Đ 01 (Một) giấy phép lái xe hạng A1, số AA745574 mang tên Trần Văn Đ do Sở Giao thông vận tải tỉnh A cấp ngày 26/10/2006 (Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh An Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang)
Căn cứ vào các điều 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Q1;
- - Về án phí: Bị cáo Trần Văn Đ được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
- - Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn Đ, bà Cao Thị Cẩm L1, bà Trần Thị Cẩm T3, Tổng Công ty CP B1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Linh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Ngọc Bờ Trương Thị Thu Thủy |
Nguyễn Duy Linh |
Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 70/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạt tù, án treo
