Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 70/2024/HS-ST

Ngày 24-9 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền

Thẩm phán: Ông Hồ Đức Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Sỹ Quân
  2. Ông Nguyễn Thái Linh
  3. Ông Trần Trung Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Soan là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm là Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2024/TLST- HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Đức H; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày 10/12/1969, tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi ĐKHK thường trú và chỗ ở hiện nay: Số E P, phường P, TP T, Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Nguyễn Văn P, sinh năm 1942; con bà: Dương Thị M, sinh năm 1944; anh chị em ruột: Có 9 người, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; vợ: Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1975 (sinh sống với nhau từ năm 1995 nhưng không đăng ký kết hôn, hiện đã ly thân); con: Có 02 con (con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2001).

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 13/5/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam Trại tạm giam Công an tỉnh H.

Bị cáo có mặt tại phiên toà

- Người bào chữa cho bị cáo:

+ Ông Dương Đình H2- Luật sư Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ; địa chỉ: B N, tổ A, khu phố B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Có mặt

+ Ông Trần Đức Đ- Luật sư văn phòng L2; địa chỉ: Số nhà B, đường N, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt

- Bị hại:

  1. Anh Lê Xuân S, sinh năm 1986; địa chỉ: Xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt
  2. Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1988; địa chỉ: Xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt

Người đại diện của bị hại chị Nguyễn Thị C: Anh Lê Xuân S, sinh năm 1986; địa chỉ: Xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt

- Người làm chứng:

  1. Chị Đào Thị Hằng N, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt
  2. Ông Thái Văn C1, sinh năm 1953; địa chỉ: Thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt
  3. Chị Dương Thị N1, sinh năm 1984; nơi thường trú: Số A, Phạm Đăng C2, phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Số A, T, phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt
  4. Anh Nguyễn Giang Đ1, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt
  5. Anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt
  6. Anh Nguyễn Thanh L, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn B, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt
  7. Ông Nguyễn Minh D, sinh năm 196 4; địa chỉ: Tổ dân phố Q, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt
  8. Chị Đặng Thị G, sinh năm 1983; địa chỉ: Số nhà B đường L, khối L, phường T, thành phố H. Vắng mặt
  9. Bà Hoàng Thị K, sinh năm 1963; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt
  10. Anh Trần Anh T1, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thửa đất số 191, tờ bản đồ số 01, diện tích 36.138,8 m² thuộc khu vực cồn B, thôn L, xã K, huyện K là đất nông nghiệp (gọi là thửa đất số 191). Năm 2001, UBND tỉnh H đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho T2 tiểu học Kỳ Bắc, xã K, huyện K. Năm 2004, UBND xã K bán thửa đất này cho ông Thái Văn C1 (sinh năm 1953, trú tại thôn L, xã K, huyện K) với giá 40.000.000 đồng. Ngày 07/01/2008, UBND tỉnh H ban hành Quyết định số 37/QĐ-UBND về việc thu hồi thửa đất trên của Trường tiểu học và giao cho UBND xã K quản lý, sử dụng, nhưng ông Thái Văn C1 không nhận được thông báo về việc thu hồi đất mà vẫn quản lý, sử dụng thửa đất. Sau khi mua thửa đất, ông C1 xây dựng một số chuồng trại, sử dụng thửa đất để chăn nuôi, trồng cây và đến ngày 13/2/2017, ông C1 bán thửa đất trên cho Nguyễn Đức H. Nguyễn Đức H làm thủ tục xin được giao thửa đất số 191 thì đại diện phòng Tài nguyên và Môi trường huyện K giải thích là Hứa không thuộc diện được giao đất nên H đã làm thủ tục thuê thửa đất để tiếp tục phát triển kinh tế trang trại. Ngày 27/9/2017, UBND huyện K ban hành Quyết định số 4877/QĐ-UBND về việc cho thuê đất để phát triển kinh tế trang trại tổng hợp của ông Nguyễn Đức H tại khu vực B, thôn L, xã K, huyện K vào mục đích xây dựng trang trại tổng hợp, thời hạn thuê đất là 50 năm (từ 01/9/2017 đến 01/9/2067), hình thức thuê trả tiền một lần với số tiền 871.718.742 đồng. Tuy nhiên, Nguyễn Đức H chưa thanh toán tiền thuê đất và chưa được UBND huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chưa có quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất đối với thửa đất này. Khoảng đầu năm 2018, Nguyễn Đức H thuê người xây dựng chuồng chăn nuôi gia súc, gia cầm trên thửa đất để kinh doanh trang trại với tổng chi phí đầu tư khoảng 7.000.000.000 đồng. Từ năm 2019 đến năm 2021 do ảnh hưởng dịch bệnh Covid 19, thiên tai bão lũ nên Nguyễn Đức H bị thua lỗ và ngừng hoạt động kinh doanh trang trại.

Trong thời gian từ khoảng tháng 5/2021 đến tháng 11/2021, Nguyễn Đức H trao đổi với anh Nguyễn Giang Đ1, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Kỳ A và anh Nguyễn Đình T là Chủ tịch UBND xã K về dự định sẽ làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với thửa đất số 191 từ đất nông nghiệp sang đất ở để xin làm dự án phân lô, bán nền, xây nhà liền kề nhằm bán thu lợi nhuận và đề xuất đưa thửa đất này vào diện quy hoạch đất ở khu dân cư trong kế hoạch sử dụng đất của xã K năm 2022. Anh Đ1 và anh T đã giải thích thửa đất này không thể chuyển đổi mục đích sử dụng thành đất ở và thực hiện dự án phân lô, bán nền, xây nhà liền kề.

Khoảng tháng 8/2021, do cần tiền để trả nợ và chi tiêu cá nhân, thời điểm này Nguyễn Đức H đang nợ chị Dương Thị N1 (sinh năm 1984, trú tại phường I, quận G, thành phố Hồ Chí Minh) khoảng 3.000.000.000 đồng, nợ anh Trần Anh T1 (sinh năm 1994, trú tại thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang) số tiền 197.400.000 đồng; nợ cho anh Đinh Võ H3 (sinh năm 1991, trú tại phường Đ, TP H, tỉnh Quảng Ninh) số tiền 153.000.000 đồng và nợ một số cá nhân khác nên Nguyễn Đức H đã đưa ra thông tin về việc Hứa có mối quan hệ quen biết với lãnh đạo tỉnh ủy H5, huyện ủy, UBND huyện K có thể xin chuyển mục đích sử dụng thửa đất số 191 từ đất trang trại thành đất ở và làm dự án phân lô, bán nền và xây dựng nhà ở nông thôn mới liền kề để kêu gọi anh Lê Xuân S góp vốn xin chuyển đổi mục đích sử dụng đất và thực hiện dự án nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của anh S để trả nợ và chi tiêu cá nhân. Anh Lê Xuân S tin tưởng thông tin Nguyễn Đức H đưa ra nên ngày 10/11/2021 anh Lê Xuân S cùng chị Nguyễn Thị C (sinh năm 1988, trú tại xã K, huyện K là vợ của anh S) và Nguyễn Đức H đã ký hợp đồng thỏa thuận hợp tác đầu tư giữa bên A là Nguyễn Đức H và bên B là chị Nguyễn Thị C, hợp đồng có nội dung “Hợp tác góp vốn đầu tư quy hoạch dự án đất ở và khối nhà liền kề” đối với thửa đất số 191, anh S và chị C đóng góp vốn 1.500.000.000 đồng. Lợi nhuận được hưởng theo quy hoạch bán đất sẽ chia theo tỉ lệ chị C 30%, H, còn phần đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thì chia đôi hoặc theo mức phần trăm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng; Thời hạn hợp đồng có thể được kéo dài hết dự án. Tuy nhiên, sau khi ký hợp đồng Nguyễn Đức H đề nghị vợ chồng anh Lê Xuân S, chị Nguyễn Thị C đóng góp vốn với số tiền 3.000.000.000 đồng, vợ chồng anh S đồng ý. Nguyễn Đức H viết thêm vào hợp đồng “Tổng số tiền đầu tư ban đầu phải đưa là 3.000.000.000 đồng". Sau đó, Nguyễn Đức H nhiều lần nhắn tin với nội dung gian dối, đốc thúc anh S chuyển tiền cho H để xin chuyển đổi mục đích sử dụng đất và thực hiện dự án. Tin tưởng thông tin Nguyễn Đức H đưa ra nên từ ngày 30/12/2021 đến ngày 20/4/2022, vợ chồng anh Lê Xuân S và chị Nguyễn Thị C đã 10 lần sử dụng các tài khoản T3 số 19036334927011, mang tên Lê Xuân S và Ngân hàng L3 số [...], mang tên Nguyễn Thị C chuyển vào tài khoản ngân hàng M1 số [...], mang tên Nguyễn Đức H với tổng số tiền 1.600.000.000 đồng (cụ thể: ngày 30/12/2021, anh S 02 lần chuyển vào tài khoản của H tổng số tiền 600.000.000 đồng; ngày 10/01/2022, anh S chuyển vào tài khoản của H số tiền 300.000.000 đồng; ngày 18/01/2022, anh S chuyển vào tài khoản của H số tiền 40.000.000 đồng; ngày 17/02/2022, anh S chuyển vào tài khoản của H số tiền 60.000.000 đồng; ngày 4/3/2022, chị C (vợ anh S) chuyển vào tài khoản của H số tiền 200.000.000 đồng; ngày 09/3/2022, chị C chuyển vào tài khoản của H số tiền 200.000.000đồng; ngày 16/4/2022 chị C chuyển 150.000.000 đồng; ngày 18/4/2022 chị C chuyển 40.000.000 đồng và ngày 20/4/2022 chị C chuyển 10.000.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được tiền của vợ chồng anh Lê Xuân S, Nguyễn Đức H đã sử dụng để trả nợ cho chị Dương Thị N1: 800.000.000 đồng; trả nợ cho anh Trần Anh T1 (sinh năm 1994, trú tại thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang): 197.400.000 đồng; trả nợ cho anh Đinh Võ H3 (sinh năm 1991, trú tại phường Đ, TP H, tỉnh Quảng Ninh): 153.000.000 đồng; trả nợ cho bà Hoàng Thị K (sinh năm 1963, trú tại phường H, TX K, tỉnh Hà Tĩnh): 24.000.000 đồng, số còn lại chi tiêu cá nhân hết, mà không sử dụng để nộp tiền làm thủ tục xin chuyển đổi mục đích sử dụng đất và thực hiện dự án phân lô, bán nền, xây nhà liền kề như trao đổi với anh S.

Đến khoảng tháng 7/2022, Nguyễn Đức H tiếp tục đưa ra thông tin gian dối là thửa đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chỉ cần nộp đủ tiền thuế thuê đất là được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng hiện còn thiếu tiền nộp thuế nên yêu cầu vợ chồng anh Lê Xuân S chuyển tiền để nộp thuế thì chị Nguyễn Thị C yêu cầu Hứa tăng lợi nhuận dự án và nếu không làm được dự án thì phải cắt đất cho vợ chồng anh S, H đồng ý tăng lợi nhuận dự án cho vợ chồng anh S từ 30% lên thành 40% và nếu hết tháng 12/2022, H chưa làm được hồ sơ liên quan đến đầu tư hợp tác thì sẽ chuyển nhượng 40% diện tích thửa đất cho vợ chồng anh Lê Xuân S. Đồng thời sửa lại hợp đồng ngày 10/11/2021 theo nội dung thay đổi này, lấy số hợp đồng là 01-2022/TTHTKD nhưng vẫn đề ngày 10/11/2021. Nguyễn Đức H viết giấy chuyển nhượng đất theo hợp đồng số 01-2022/TTHTKD với nội dung nếu không hợp tác làm dự án hoặc bán lại dự án thì Hứa sẽ cắt 40% diện tích thửa đất cho vợ chồng anh Lê Xuân S. Sau khi ký hợp đồng, chị Nguyễn Thị C yêu cầu Nguyễn Đức H chuyển thông báo nộp thuế cho chị C để chị C trực tiếp nộp thuế nhưng H không đồng ý mà yêu cầu chị C đưa tiền để Hứa tự đi nộp thuế và làm thủ tục. Do Nguyễn Đức H không xuất trình được thông báo nộp thuế và số tiền 1.600.000.000 đồng đã sử dụng như thế nào nên vợ chồng anh Lê Xuân S không chuyển thêm tiền mà yêu cầu Nguyễn Đức H phải trả lại số tiền đã nhận là 1.600.000.000 đồng, nhưng H không có khả năng để trả lại tiền cho vợ chồng anh S

* Vật chứng đã thu giữ và xử lý:

  • - Thu giữ từ bị cáo Nguyễn Đức H;
    • + 01 hợp đồng thỏa thuận hợp tác đầu tư đề ngày 10/11/2021 giữa bên A là Nguyễn Đức H và bên B là Nguyễn Thị C;
    • + 01 chứng nhận đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại mang tên Nguyễn Đức H (bản sao y);
    • + 01 chứng nhận đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại mang tên Thái Văn C1;
    • + 01 giấy chứng nhận chuyển quyền sử dụng đất trang trại và đất vườn rừng giữa ông Thái Văn C1 và Nguyễn Đức H (bản sao y);
    • + 01 giấy chứng nhận chuyển quyền sử dụng đất vườn rừng viết tay đề ngày 16/10/2004, Phó Chủ tịch UBND xã K ký tên, đóng dấu;
    • + 01 hợp đồng thuê đất số 04/HĐ-TNMT ngày 02/10/2017 giữa bên A là UBND huyện K và bên B là ông Nguyễn Đức H.
    • + 01 tờ trích đo khu đất phục vụ giao đất, thuê đất và chỉnh lý hồ sơ địa chính hệ tọa độ VN-2000, thôn L, tờ số 48 (016596-4-c), công trình trang trại chăn nuôi tổng hợp của hộ ông Nguyễn Đức H.
    • + 01 giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đề ngày 19/6/2021, mang tên Nguyễn Đức H do UBND phường P, TP T, Bình Dương cấp.
  • - Thu giữ từ người bị hại anh Lê Xuân S:
    • + 01 Hợp đồng thỏa thuận hợp tác đầu tư không điền số, đề ngày 10/11/2021, giữa bên A là ông Nguyễn Đức H và bên B là chị Nguyễn Thị C.
    • + 01 Giấy chuyển nhượng đất theo HĐ số 01- 2022/TTHTKD đề ngày 18/8/2022.
    • + 01 Phiếu thu đề ngày 25/8/2022, người nhận tiền là Nguyễn Đức H.
    • + 01 Hợp đồng thỏa thuận hợp tác đầu tư số 01-2022/TTHTKD, đề ngày 10/11/2021, giữa bên A là ông Nguyễn Đức H và bên B là chị Nguyễn Thị C, gồm 03 tờ.

- Đồ vật, tài liệu đã xử lý:

Trả lại cho chị Nguyễn Thị Kim H4 (sinh năm 1982), trú tại thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (người được bị cáo Nguyễn Đức H ủy quyền) các tài liệu: 01 giấy chứng nhận chuyển quyền sử dụng đất vườn rừng viết tay đề ngày 16/10/2004, Phó Chủ tịch UBND xã K ký tên, đóng dấu; 01 chứng nhận đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại mang tên Thái Văn C1; 01 hợp đồng thuê đất số 04/HĐ-TNMT ngày 02/10/2017 giữa bên A là UBND huyện K và bên B là ông Nguyễn Đức H (thu giữ bản sao y để chuyển theo hồ sơ vụ án).

Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 63/CT-VKS-P2 ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phân tích đánh giá các tình tiết của vụ án, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

a) Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, Điều 38; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H từ 12 (mười hai) năm tù đến 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam từ ngày 13/5/2024.

b) Về dân sự:

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Nguyễn Đức H bồi thường cho bị hại anh Lê Xuân S số tiền 1.600.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

Tại phiên tòa, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, và cho rằng mình không có tội, đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét cho bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo, ông Dương Đình H2 và ông Trần Đức Đ có quan điểm: Không không đồng tình với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh về việc truy tố đối với Nguyễn Đức H. Luật sư cho rằng không có dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hợp đồng thỏa thuận hợp tác đầu tư giữa Nguyễn Đức H và anh S, chị C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo, người bị hại cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ những người làm chứng. Tại phiên toà một số người làm chứng vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, xét thấy người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra vì vậy sự vắng mặt của người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Vì vậy, căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Xét về hành vi phạm tội của bị cáo

[2.1]. Quá trình điều tra ban đầu bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên tại những biên bản lấy lời khai giai đoạn sau và tại phiên toà bị cáo Nguyễn Đức H không thừa nhận hành vi phạm tội và cho rằng những lời khai trước đây của bị cáo là không đúng, do thời điểm đó bị cáo tâm lý chưa ổn định và bị cáo cho rằng, bị cáo và anh S góp vốn đầu tư không phải để chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở, làm dự án phân lô, bán nền xây nhà liền kề nông thôn mới để bán mà là hợp tác đầu tư trang trại, hợp đồng nội dung hợp đồng là do vợ chồng anh S chuẩn bị, khi ký bị cáo không đọc nội dung đó.

Tuy nhiên căn cứ vào lời khai của bị hại, người làm chứng và những tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để khẳng định:

Mặc dù thửa đất số 191, tờ bản đồ số 01, thuộc vùng B, thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh có diện tích 36.138,8m2 là đất nông nghiệp do UBND xã K quản lý. Năm 2017, Nguyễn Đức H được UBND huyện K quyết định về việc cho thuê đối với thửa đất này trong thời hạn 50 năm (từ ngày 01/9/2017 đến ngày 01/9/2067), tuy nhiên Nguyễn Đức H không thực hiện nghĩa vụ tài chính nên chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy bị cáo chưa có quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất đối với diện tích nêu trên. Đồng thời những người có thẩm quyền đã giải thích đối với H về việc thửa đất này không thể chuyển đổi mục đích sử dụng thành đất ở và làm dự án phân lô, bán nền, xây nhà ở nông thôn mới liền kề. Nhưng do cần tiền để trả nợ và chi tiêu cá nhân, Nguyễn Đức H đã đưa ra thông tin gian dối về việc Hứa có quen biết lãnh đạo Tỉnh ủy H5, huyện ủy, UBND huyện K, xin chuyển đổi mục đích sử dụng thửa đất thành đất ở và làm dự án phân lô, bán nền, xây nhà ở nông thôn mới liền kề đối với thửa đất này để kêu gọi anh Lê Xuân S góp vốn đầu tư xin chuyển mục đích sử dụng đất và làm dự án. Sau khi ký hợp đồng thỏa thuận góp vốn đầu tư, Nguyễn Đức H tiếp tục nhắn tin có nội dung gian dối, đốc thúc anh S chuyển tiền cho H để xin chuyển đổi mục đích sử dụng đất và thực hiện dự án nhằm chiếm đoạt tiền của anh S. Tin tưởng thông tin Nguyễn Đức H đưa ra nên từ ngày 30/12/2021 đến ngày 20/4/2022, anh Lê Xuân S và chị Nguyễn Thị C đã 10 lần chuyển vào tài khoản của H với tổng số tiền 1.600.000.000 đồng để góp vốn xin chuyển đổi mục đích sử dụng đất và thực hiện dự án. Tuy nhiên, sau khi chiếm đoạt được tiền, Nguyễn Đức H không sử dụng để nộp tiền làm thủ tục xin chuyển đổi mục đích sử dụng đất và thực hiện dự án mà sử dụng trả nợ, chi tiêu cá nhân hết và không có khả năng trả lại cho anh Lê Xuân S.

Như vậy hành vi dùng thủ đoạn gian dối đưa ra các thông tin sai sự thật để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại với số tiền 1.600.000.000đồng của bị cáo Nguyễn Đức H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Vì vậy Cáo trạng số: 63/CT-VKS-P2 ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2] Tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Bị cáo H là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo phải nhận thức được việc đưa ra các thông tin gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, gây thiệt hại về kinh tế đối với bị hại, đồng thời làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xét xử bị cáo mức án nghiêm, nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung đối với xã hội.

[2.3] Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ông Nguyễn Văn P (bố của bị cáo) là người có công với cách mạng, từng tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì; tham gia quân tình nguyện Việt Nam tại CHDCND Lào, được Chính phủ nước CHDCND Lào tặng Huy chương kháng chiến; bà Dương Thị M (mẹ của bị cáo) từng tham gia dân công hỏa tuyến kháng chiến chống Mỹ; Bị cáo có đơn xác nhận của chính quyền địa phương về việc bị cáo đã đóng góp xây dựng nông thôn mới đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên khi quyết định hình phạt cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[3] Về trách nhiệm bồi thường dân sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo Nguyễn Đức H đã lừa đảo chiếm đoạt của bị hại, với tổng số tiền 1.600.000.000 đồng. Đến nay bị cáo chưa bồi thường cho bị hại. Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại anh Lê Xuân S số tiền 1.600.000.000 đồng.

[4] Về xử lý vật chứng:

  • - Thu giữ từ bị cáo Nguyễn Đức H;
    • + 01 hợp đồng thỏa thuận hợp tác đầu tư đề ngày 10/11/2021 giữa bên A là Nguyễn Đức H và bên B là Nguyễn Thị C;
    • + 01 chứng nhận đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại mang tên Nguyễn Đức H (bản sao y);
    • + 01 chứng nhận đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại mang tên Thái Văn C1;
    • + 01 giấy chứng nhận chuyển quyền sử dụng đất trang trại và đất vườn rừng giữa ông Thái Văn C1 và Nguyễn Đức H (bản sao y);
    • + 01 giấy chứng nhận chuyển quyền sử dụng đất vườn rừng viết tay đề ngày 16/10/2004, Phó Chủ tịch UBND xã K ký tên, đóng dấu;
    • + 01 hợp đồng thuê đất số 04/HĐ-TNMT ngày 02/10/2017 giữa bên A là UBND huyện K và bên B là ông Nguyễn Đức H.
    • + 01 tờ trích đo khu đất phục vụ giao đất, thuê đất và chỉnh lý hồ sơ địa chính hệ tọa độ VN-2000, thôn L, tờ số 48 (016596-4-c), công trình trang trại chăn nuôi tổng hợp của hộ ông Nguyễn Đức H.
    • + 01 giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đề ngày 19/6/2021, mang tên Nguyễn Đức H do UBND phường P, TP T, Bình Dương cấp.
  • - Thu giữ từ người bị hại anh Lê Xuân S:
    • + 01 Hợp đồng thỏa thuận hợp tác đầu tư không điền số, đề ngày 10/11/2021, giữa bên A là ông Nguyễn Đức H và bên B là chị Nguyễn Thị C.
    • + 01 Giấy chuyển nhượng đất theo HĐ số 01- 2022/TTHTKD đề ngày 18/8/2022.
    • + 01 Phiếu thu đề ngày 25/8/2022, người nhận tiền là Nguyễn Đức H.
    • + 01 Hợp đồng thỏa thuận hợp tác đầu tư số 01-2022/TTHT KD, đề ngày 10/11/2021, giữa bên A là ông Nguyễn Đức H và bên B là chị Nguyễn Thị C, gồm 03 tờ.

Tiếp tục lưu cùng hồ sơ vụ án.

[5] Về những nội dung, hành vi có liên quan trong vụ án:

Đối với số tiền 6.189.290 đồng anh Lê Xuân S nộp chi phí trích đo thửa đất diện tích 36.138,8m² ở xã K, huyện K theo yêu cầu của H: Quá trình điều tra xác định, ngày 23/12/2021, Nguyễn Đức H nộp đơn đề nghị đo đạc hiện trạng thửa đất tại Trung tâm Hành chính công huyện K nên Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh K1 đã phối hợp với UBND xã K và Nguyễn Đức H tiến hành đo đạc hiện trạng. Ngày 18/01/2022, Nguyễn Đức H nhận kết quả trích đo và bảo anh Lê Xuân S nộp 6.189.290 đồng để thanh toán chi phí đo đạc tại Trung tâm Hành chính công huyện K. Số tiền này anh S nộp trực tiếp vào tài khoản ngân hàng của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H để nộp chi phí đo đạc. Vì vậy, không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Đức H về số tiền 6.189.290 đồng là có căn cứ và anh S cũng không có yêu cầu Nguyễn Đức H bồi thường đối với số tiền này.

[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức H phải chịu án phí hình sự, dân sự bồi thường theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, Điều 38; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam, từ ngày 13/5/2024.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, 586, Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Nguyễn Đức H có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại anh Lê Xuân S số tiền 1.600.000.000 đồng (Một tỷ sáu trăm triệu đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Sau khi án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì phải chịu trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

4.Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu cùng hồ sơ vụ án các vật chứng thu giữ từ bị cáo Nguyễn Đức H và bị hại Lê Xuân S.

  • - Thu giữ từ bị cáo Nguyễn Đức H;
    • + 01 hợp đồng thỏa thuận hợp tác đầu tư đề ngày 10/11/2021 giữa bên A là Nguyễn Đức H và bên B là Nguyễn Thị C;
    • + 01 chứng nhận đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại mang tên Nguyễn Đức H (bản sao y);
    • + 01 chứng nhận đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại mang tên Thái Văn C1;
    • + 01 giấy chứng nhận chuyển quyền sử dụng đất trang trại và đất vườn rừng giữa ông Thái Văn C1 và Nguyễn Đức H (bản sao y);
    • + 01 giấy chứng nhận chuyển quyền sử dụng đất vườn rừng viết tay đề ngày 16/10/2004, Phó Chủ tịch UBND xã K ký tên, đóng dấu;
    • + 01 hợp đồng thuê đất số 04/HĐ-TNMT ngày 02/10/2017 giữa bên A là UBND huyện K và bên B là ông Nguyễn Đức H.
    • + 01 tờ trích đo khu đất phục vụ giao đất, thuê đất và chỉnh lý hồ sơ địa chính hệ tọa độ VN-2000, thôn L, tờ số 48 (016596-4-c), công trình trang trại chăn nuôi tổng hợp của hộ ông Nguyễn Đức H.
    • + 01 giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đề ngày 19/6/2021, mang tên Nguyễn Đức H do UBND phường P, TP T, Bình Dương cấp.
  • - Thu giữ từ người bị hại anh Lê Xuân S:
    • + 01 Hợp đồng thỏa thuận hợp tác đầu tư không điền số, đề ngày 10/11/2021, giữa bên A là ông Nguyễn Đức H và bên B là chị Nguyễn Thị C.
    • + 01 Giấy chuyển nhượng đất theo HĐ số 01- 2022/TTHTKD đề ngày 18/8/2022.
    • + 01 Phiếu thu đề ngày 25/8/2022, người nhận tiền là Nguyễn Đức H.
    • + 01 Hợp đồng thỏa thuận hợp tác đầu tư số 01-2022/TTHTKD, đề ngày 10/11/2021, giữa bên A là ông Nguyễn Đức H và bên B là chị Nguyễn Thị C, gồm 03 tờ.

5. Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 21, Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án

Buộc bị cáo Nguyễn Đức H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) án phí dân sự bồi thường.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Phòng LLTP Sở tư pháp;
  • - Bị cáo; bị hại
  • - THAHS TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thương Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 70/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thửa đất số 191, tờ bản đồ số 01, diện tích 36.138,8 m2 thuộc khu vực cồn Bình Xuyên, thôn Lạc Tiến, xã Kỳ Bắc, huyện Kỳ Anh là đất nông nghiệp (gọi là thửa đất số 191). Năm 2001, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Trường tiểu học Kỳ Bắc, xã Kỳ Bắc, huyện Kỳ Anh. Năm 2004, UBND xã Kỳ Bắc bán thửa đất này cho ông Thái Văn Chương (sinh năm 1953, trú tại thôn Lạc Tiến, xã Kỳ Bắc, huyện Kỳ Anh) với giá 40.000.000 đồng. Ngày 07/01/2008, UBND tỉnh Hà Tĩnh ban hành Quyết định số 37/QĐ-UBND về việc thu hồi thửa đất trên của Trường tiểu học Kỳ Bắc và giao cho UBND xã Kỳ Bắc quản lý, sử dụng, nhưng ông Thái Văn Chương không nhận được thông báo về việc thu hồi đất mà vẫn quản lý, sử dụng thửa đất. Sau khi mua thửa đất, ông Chương xây dựng một số chuồng trại,
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger