TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HÓA Bản án số: 70/2024/HS-ST Ngày: 24 - 9 - 2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Quân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Văn Thuận
- Bà Ngô Thị Ân
Thư ký phiên toà: Ông Lê Tiến Trường – Thư ký tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử trực tuyến sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 66/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST-HS, ngày 10/9/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn V; Sinh ngày: 28/9/2000, tại xã T, huyện T, Thanh Hóa;
Nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện T, Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 8/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Nguyễn Văn C - Sinh năm: 1973; Con bà: Nguyễn Thị T - Sinh năm: 1975; Tiền án: Ngày 28/3/2023, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt 17 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt ngày 19/02/2024. Tính đến thời điểm phạm tội ngày 25/7/2024, bị cáo chưa được xóa án tích theo quy định; Tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/7/2024 cho đến nay. Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng:
* Người làm chứng
Bùi Văn H, sinh năm: 1996(vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 25/7/2024, trong quá trình tuần tra, kiểm soát đảm bảo an ninh khu vực, tổ công tác Công an xã T, huyện T phát hiện tại nhà của Nguyễn Văn V (SN 2000, trú tại thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa), có nhiều biểu hiện nghi vấn phạm tội ma túy. Tổ công tác tiến hành vào nhà kiểm tra phát hiện Nguyễn Văn V đang ngồi trên giường ngủ, trên mặt giường có 01 (một) túi nilon màu trắng có kích thước khoảng (10×12) cm, bên trong chứa 05 (Năm) gói nilon màu hồng, kích thước tương đối bằng nhau khoảng (0,5×01) cm, tiếp đến là lớp giấy màu trắng, trong cùng có chứa chất bột màu trắng. Khai thác nhanh tại chỗ, Nguyễn Văn V khai nhận các gói nilon màu hồng có chứa ma túy, loại: Heroine, V cất giấu để sử dụng và bán kiếm lời. Trước đó vào ngày 23/7/2024, V đã bán 01 gói ma túy cho Bùi Văn H (SN 1996, trú tại thôn T, xã T, huyện T) 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn V về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy đồng thời thu giữ toàn bộ ma túy phục vụ công tác điều tra (BL 01-02).
Tại bản kết luận giám định số: 2832/KL-KTHS ngày 31/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,103 gam loại Heroine (BL 44).
Về nguồn gốc số ma túy, Nguyễn Văn V khai nhận do bản thân là người nghiện chất ma tuý, nên trước đó vào ngày 17/7/2024, khi V đang đi làm ở thành phố Hà Nội, V có gặp trực tiếp và trao đổi mua ma túy của người đàn ông giới thiệu là “Hưng” (Không xác định được họ tên đầy đủ, địa chỉ cụ thể) tại Quận H, thành phố Hà Nội 01 gói ma tuý với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được gói ma tuý V cất giấu trên người rồi đi xe khách về nhà tại thôn V, xã T, huyện T. Sau đó, V đã chia gói ma túy thành 20 gói nhỏ có kích thước tương đối bằng nhau khoảng (0,5×01) cm để sử dụng và bán kiếm lời. Ngày 23/7/2024, H đến nhà và hỏi mua của V 01 gói ma túy. Do đang có sẵn ma túy nên V đã bán 01 gói ma túy cho Bùi Văn H với giá 200.000 đồng. Số tiền này H đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Trong các ngày trước khi bị bắt quả tang V đã sử dụng hết 14 gói và bán cho H 01 gói còn 05 gói ma túy Vượng cất giấu mục đích để tiếp tục sử dụng và bán kiếm lời thì bị bắt quả tang như đã nêu trên.
Về người bán ma túy, do V khai không quen biết, không rõ họ tên, địa chỉ mà chỉ nghe người này giới thiệu tên là “H1”. Ngoài tên gọi này, V không còn thông tin nào khác để cung cấp cho Cơ quan điều tra nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án.
Trong vụ án có Bùi Văn H là người đã mua ma túy của Nguyễn Văn V, tuy nhiên H khai: sau khi mua được ma túy thì H về nhà lấy gói ma túy ra để sử dụng thì phát hiện gói ma túy này đã rơi lúc nào mà H không biết. Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc và xét nghiệm nước tiểu đối với H thì xác định Hoàng âm T1 với ma túy nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để chuyển hồ sơ cho Công an huyện T xem xét xử lý đối với Bùi Văn H về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
Quá trình điều tra Nguyễn Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy như đã nêu trên. Lời khai của bị can phù hợp với lời khai của Bùi Văn H là người mua ma túy, phù hợp với vật chứng thu giữ và kết quả giám định chất ma túy. Như vậy, có đủ căn cứ xác định Nguyễn Văn V đã thực hiện hành vi bán trái phép 01 gói ma túy loại Heroine cho Bùi Văn H vào ngày 23/7/2024 và tàng trữ để bán 0,103 gam Heroine thì bị bắt quả tang.
Kết quả xác minh về tài sản, thu nhập, xác định hiện tại bị can Nguyễn Văn V không có tài sản và thu nhập.
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 05 gói ma túy (kết quả giám định là ma túy loại Heroine). Sau giám định cơ quan giám định đã hoàn lại toàn bộ vỏ bao gói và 0,087 gam chất bột màu trắng. Tất cả được đựng trong 01 phong bì niêm phong mẫu vật do phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lại Thị Thanh L, Nguyễn Trần Đ, Phạm Thanh H2 và các hình dấu của phòng K Công an tỉnh T.
Vật chứng được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành bảo quản chờ xử lý.
* Tại bản cáo trạng số 76/CT-VKSTT ngày 07/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm, quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s, khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử bị cáo Nguyễn Văn V từ 30 đến 33 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 25/7/2024.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định cơ quan giám định gồm toàn bộ vỏ bao gói và 0,087 gam chất bột màu trắng. Đề nghị truy thu bị cáo 200.000đ để sung quỹ nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí theo quy định pháp luật.
Tại phần tranh tụng bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận với đại diện viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho cá bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ;
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận thấy như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên Cơ quan điều tra công an huyện T và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã nhận tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với diễn biến, thời gian, địa điểm; biên bản khám xét, vật chứng thu giữ, kết quả giám định chất ma túy; cùng với những tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Xuất phát từ động cơ vụ lợi và nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên Nguyễn Văn V đã mua ma túy về để sử dụng và bán kiếm lời. Vào ngày 23/7/2024, Nguyễn Văn V đã bán cho Bùi Văn H (SN 1996, trú tại thôn T, xã T, huyện T) 01 gói ma túy (Loại H) với giá 200.000 đồng. Đến ngày 25/7/2024, Nguyễn Văn V đang tàng trữ để bán 0,103 gam loại Heroine thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang. Vì vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của VKSND huyện Thạch Thành truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- [3] Về tính chất vụ án: Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước mà còn trực tiếp xâm hại đến sức khỏe, nhân cách, đạo đức, lối sống con người, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội trên địa bàn. Hội đồng xét xử xét thấy, cần xét xử bị cáo một mức án nghiêm minh, tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- [4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự, tại phiên tòa gia đình bị cáo xuất trình được tài liệu chứng cứ gia đình có công với nhà nước nên HĐXX áp dụng Khoản 2 Điều 51 BLHS. Đây là tình tiết giảm nhẹ để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, cải tạo sớm trở về đoàn tụ gia đình và trở thành người công dân có ích cho xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật nhà nước.
- [5] Về hình phạt bổ sung: Xác minh về điều kiện tài sản xác định bị cáo hiện không có tài sản và thu nhập đáng kể gì. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp.
- [6] Đối người đã bán ma túy cho Về người bán ma túy cho Nguyễn Văn V, do bị cáo khai không quen biết, không rõ họ tên, địa chỉ mà chỉ nghe người này giới thiệu tên là “H1”. Ngoài tên gọi này, V không còn thông tin nào khác để cung cấp cho Cơ quan điều tra nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án là đúng quy định của pháp luật.
- [7] Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác: Xét thấy vật chứng là mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm toàn bộ vỏ bao gói và 0,087 gam (Không phẩy không tám bảy) chất bột màu trắng ma túy là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền bị cáo bán ma túy có được bị cáo đã chi tiêu hết nên cần truy thu bị cáo Nguyễn Văn V 200.000đ số tiền này để sung quỹ nhà nước.
- [8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s, khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn V 30(ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (25/7/2024).
- - Áp dụng: điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, khoản 2 điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016,
- + Tịch thu tiêu hủy đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 0,087 gam (Không phẩy không tám bảy) chất bột màu trắng. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/09/2024.
- + Truy thu bị cáo Nguyễn Văn V 200.000đ để sung quỹ nhà nước.
- + Bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Văn Quân |
Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ về mua bán trái phép chất ma túy (tội phạm hình sự)
- Số bản án: 70/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Tội phạm hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Vượng - mua bán trái phép chất ma túy
