Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀ TRUNG

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 70/2024/HS-ST

Ngày 17 - 09 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đào Văn Nam

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Biên và ông Lê Văn Ký.

Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: ông Phan Văn Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 09 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm - Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa và Đ cầu thành phần - Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 62/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 08 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 68/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 09 năm 2024, đối với:

- Các bị cáo:

  1. NguyễnChiến, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1991, tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hoánghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: NguyễnThạch và bà: Nguyễnị Huấn; có vợ: Bùi Thị P và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 13/03/2024 đến ngày 23/03/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa đến nay. Có mặt.
  2. Trịnh Văn Đ2 ngày 02 tháng 9 năm 1993 tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hoánghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trịnh Văn Q NguyễnHương; có vợ: Nguyễn Thị T (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 25/3/2020, bị Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Đánh nhau”; bị tạm giữ từ ngày 13/03/2024 đến ngày 23/03/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa đến nay. Có mặt

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn C: bà Hoàng Thị T1, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Trịnh Văn Đ2: bà Bùi Thị H, Luật sư Công ty L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T. Vắng mặt.

- Người làm chứng: bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Kim C1; cùng địa chỉ: thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Đều vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác tại Điểm cầu thành phần: bà Lê Minh A- Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ ngày 13/03/2024, Trịnh Văn Đ2 cùng Nguyễn Văn C ngồi chơi game ở xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, C hỏi Đ2 có chỗ nào lấy ít ma túy đá về chơi, Đ2 mượn điện thoại của C gọi đến số điện thoại 0972.930.xxx của Cao Văn T2, sinh năm 1991 ở xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa hỏi mua 500.000 đồng ma túy và hẹn đến gần gác ghi xã H, huyện H. Đ2 nói với C thì C đồng ý mua ma túy.

Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Đ2 gọi điện thoại nhiều lần cho T2 nhưng không được nên rủ C đi về nơi ở của Đ2 câu cá. Đang ngồi câu cá, T2 gọi điện thoại lại và Đ2 đi xe một mình ra ngoài bờ đồng gần cổng làng thôn N, xã H, huyện H gặp T2 để lấy 01 gói ma túy, bên ngoài bọc bằng nilon màu trắng. Đ2 cầm ma túy rồi đi về nơi ở và đưa cho C xem. Thấy ma túy ít nên Đ2 và C thống nhất chỉ chuyển số tiền 400.000 đồng. Sau đó, Đ2 đi vào bếp lấy 01 chai nhựa, bên ngoài in chữ C2 và một nắp chai màu đỏ, bên trên nắp chai đục 02 lỗ, có gắn 01 ống hút nhựa màu đen và 01 ống hút nhựa màu vàng rồi lấy 01 ống thủy tinh dạng philatop chế thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, sau đó gọi C vào sử dụng. Đ2 lấy ma túy bỏ vào trong ống thủy tinh rồi dùng bật lửa châm sử dụng khoảng 02 đến 03 lần và châm cho C sử dụng 02 lần. Sử dụng ma túy xong, Đ2 nói với C chuyển số tiền 400.000 đồng vào số tài khoản 0972930830 của T2 mở tại Ngân hàng TMCP Q1, còn Đ2 tháo chai nhựa ra bỏ vào trong thùng rác ở phía góc sân, nắp chai nhựa có gắn 02 ống hút cùng ống thủy tinh Đ2 mang bỏ vào trong túi đeo, màu nâu cất trong phòng bếp. Đ2 và C ngồi ở hè thì Đ2 nói với C sẽ chịu số tiền 150.000 đồng tiền mua ma túy.

Đến 17 giờ 20 phút cùng ngày, tổ công tác Công an huyện H phối hợp với Công an xã H làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát an ninh trật tự phát hiện tại nơi ở của Trịnh Văn Đ2 có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Kiểm tra, phát hiện và thu giữ: trong phòng bếp nơi ở của Trịnh Văn Đ2 01 ống thủy tinh dạng ống philatốp, bên trong bề mặt có chất bám dính màu đen, nghi là ma túy; trong túi màu nâu 01 nắp chai nhựa màu đỏ, trên nắp có đục 02 lỗ có gắn 01 ống hút nhựa màu vàng và 01 ống hút nhựa màu đen được niêm phong trong phong bì ký hiệu “vụ Trịnh Văn Đ2”; trong thùng rác tại góc sân nơi ở của Đ2 01 chai nhựa nhãn hiệu C2, 01 bật lửa gas màu xanh đã qua sử dụng; thu giữ của Nguyễn Văn C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone XS Max có gắn sim thuê bao số 0899250341. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản vụ việc, thu giữ toàn bộ vật chứng nêu trên và yêu cầu Trịnh Văn Đ2 và Nguyễn Văn C về Công an huyện H làm việc. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trịnh Văn Đ2, cơ quan điều tra không phát hiện, thu giữ gì thêm. Tiến hành test nhanh ma túy trong nước tiểu của Trịnh Văn Đ2 và Nguyễn Văn C. Kết quả, Đ2 và C dương tính với MET (ma túy đá).

Tại Bản kết luận giám định số 1091/KL-KTHS ngày 19/03/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “tìm thấy chất ma túy, loại: Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của Trịnh Văn Đ2, Nguyễn Văn C gửi giám định”.

Tại Bản kết luận giám định số 1092/KL-KTHS ngày 19/03/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong chất mầu nâu đen bám dính bên trong ống thủy tinh dạng ống philatop của phong bì niêm phong mặt trước ghi “vụ Trịnh Văn Đ2” gửi giám định. Không xác định được khối lượng chất ma túy; tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine bám dính ở nắp chai nhựa màu đỏ và ống nhựa màu vàng, ống nhựa màu đen của phong bì mặt trước ghi “vụ Trịnh Văn Đ2” gửi giám định”.

Cáo trạng số 66/CT-VKS-HT ngày 26/08/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn C và Trịnh Văn Đ2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Quan điểm bào chữa cho bị cáo Trịnh Văn Đ2 của Người bào chữa Bùi Thị H: về tội danh truy tố đối với bị cáo Trịnh Văn Đ2 là có cơ sở, bị cáo phạm tội do chưa hiểu biết hết được tác hại của ma túy và các quy định của pháp luật về phòng chống ma túy; bị cáo Nguyễn Văn C là người khởi xướng, chuẩn bị tiền mua ma túy, bị cáo Đ2 không có tiền, sử dụng chung với bị cáo C; bị cáo Đ2 phạm tội giản đơn, bột phát, là hành vi của những người từng sử dụng ma túy, tụ tập lại với nhau cùng sử dụng trái phép chất ma túy nhằm mục đích đưa vào cơ thể mình, chứ không phải đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác. Hai bị cáo cũng là nạn nhân của ma túy, bị phụ thuộc vào chất ma túy, có điều kiện sẽ sử dụng, do chưa đánh giá hết được tác hại của ma túy và bị pháp luật trừng trị một cách nghiêm khắc nên đã tổ chức cùng nhau sử dụng. Bị cáo lần đầu phạm tội, chưa có tiền án, tiền sự, là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh khó khăn, con nhỏ, vợ chồng đã ly hôn. Bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố đẻ của bị cáo là người có công với cách mạng và có hai bác ruột là Trịnh Văn S và Nguyễn Văn A1 là liệt sỹ hy sinh trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng mức án 02 năm tù giam.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng đã truy tố, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn C và Trịnh Văn Đ2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 255, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điều 106, 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; xử phạt: bị cáo NguyễnChiến từ 24 tháng tù đến 27 tháng tù, bị cáo Trịnh Văn Đ2 từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone XS Max màu trắng, có gắn sim thuê bao số 0899250341; tịch thu tiêu hủy 01 (một) nắp chai nhựa có gắn 02 (hai) ống hút và 01 (một) ống thủy tinh được đựng trong phong bì niêm phong; 01 (một) bật lửa gas và 01 (một) vỏ chai C2; buộc bị cáo Trịnh Văn Đ2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn C.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn C trình bày quan điểm bào chữa: về trách nhiệm hình sự, thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo với mức thấp nhất của khung hình phạt. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và miễn nộp án phí hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng: quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo và người bào chữa không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng với trình tự, thủ tục, thẩm quyền và hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2]. Về tội danh: lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo ở giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ được và bản kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác phản ánh trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: chiều ngày 13 tháng 03 năm 2024, tại nơi ở của Trịnh Văn Đ2, thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, Trịnh Văn Đ2 và Nguyễn Văn C sau khi mua được chất ma túy, loại Methamphetamine, đã chuẩn bị dụng cụ để sử dụng đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể.

Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt của các bị cáo trong vụ án:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Đây là chất gây nghiện, có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người, là một trong những nguyên nhân chính gây ra các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.

Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, trong đó Nguyễn Văn C là người khởi xướng việc mua chất ma túy để sử dụng, Trịnh Văn Đ2 là người thực hành tích cực, trực tiếp mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ để sử dụng ma túy và châm ma túy cho C sử dụng nên các bị cáo có vai trò ngang nhau.

Bị cáo Nguyễn Văn C trước khi bị bắt về hành vi trong vụ án này, chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính cũng như bị kết án về tội danh nào. Trịnh Văn Đ2 có nhân thân xấu, là đối tượng đã từng bị Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau”.

Các bị cáo đều không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội, các bị cáo đều thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bố đẻ của các bị cáo Nguyễn Văn C và Trịnh Văn Đ2 đều là những người từng tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc; gia đình bị cáo Nguyễn Văn C thuộc hộ nghèo, bản thân gia đình bị cáo đang phải chăm sóc, nuôi dưỡng bà nội là mẹ của Liệt sĩ, đây là những tình tiết được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào nhân thân, vai trò, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Xét thấy, các bị cáo có vai trò ngang nhau nên phải chịu mức hình phạt ngang bằng nhau. Tuy nhiên, bị cáo Đ2 là đối tượng có nhân thân xấu nên phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo C là phù hợp.

[4]. Về hình phạt bổ sung: các bị cáo đều là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5]. Xét quan điểm bào chữa của những người bào chữa:

Đối với quan điểm bào chữa cho bị cáo Trịnh Văn Đ2: mặc dù thống nhất về tội danh mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên, quan điểm về hành vi của bị cáo Đ2 là hành vi của những người đã từng sử dụng ma túy, tụ tập lại với nhau cùng sử dụng trái phép chất ma túy nhằm mục đích đưa vào cơ thể mình chứ không phải đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác là không phù hợp, bởi trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thừa nhận lần đầu sử dụng ma túy; quá trình sử dụng ma túy, bị cáo đã 02 lần đưa ma túy cho bị cáo C sử dụng. Đối với quan điểm về tình tiết giảm nhẹ đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ nên được chấp nhận. Tuy nhiên, đối với tình tiết bị cáo có hai bác ruột là ông Trịnh Văn S và ông Nguyễn Văn A1 là liệt sĩ nhưng quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người thân không giao nộp những tài liệu, chứng cứ này nên không được xem xét. Đối với quan điểm về mức hình phạt của bị cáo, sau khi xem xét nhân thân, vai trò, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy bị cáo là người thực hành tích cực, trực tiếp mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ để sử dụng ma túy và châm ma túy cho bị cáo C sử dụng, mặt khác bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu nên phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo C, do đó quan điểm cho bị cáo được hưởng mức án 02 năm tù là không có cơ sở nên không được chấp nhận.

Đối với quan điểm bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn C là có cơ sở nên được chấp nhận.

[6]. Về các tình tiết liên quan trong vụ án:

Đối với bà Nguyễn Thị H1 (mẹ ruột bị cáo Đ2), không biết việc các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại địa điểm nơi chị H1 quản lý nên không có căn cứ để xử lý.

Quá trình điều tra, các bị cáo khai mua ma túy của Cao Văn T2 nhưng T2 không thừa nhận mà chỉ thừa nhận Đ2 gọi điện trả tiền nợ và chuyển 400.000 đồng vào tài khoản của T2. Sau đó, T2 đã bỏ đi khỏi địa phương nên không tiến hành được việc đối chất giữa T2 và các bị cáo để làm rõ có hay không việc T2 bán ma túy cho Đ2 chiều ngày 13/03/2024. Cơ quan điều tra Công an huyện H đã ra Quyết định truy tìm T2 và tách hành vi “mua bán trái phép chất ma túy” để tiếp tục điều tra làm rõ là phù hợp.

[7]. Về xử lý vật chứng: đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone XS Max là vật chứng mà các bị cáo sử dụng làm phương tiện liên lạc để mua ma túy nên tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 01 vỏ chai C2, 01 nắp chai nhựa có gắn 02 ống hút cùng ống thủy tinh và bật lửa gas là dụng cụ để sử dụng ma túy, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[8]. Về án phí: gia đình bị cáo Nguyễn Văn C là hộ nghèo, tại phiên tòa có đề nghị miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm nên được chấp nhận; bị cáo Trịnh Văn Đ2 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 255; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 6; điểm đ khoản 1 Điều 12 và Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Văn C và Trịnh Văn Đ2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
  2. Xử phạt:
    • - Bị cáo Trịnh Văn Đ2 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 13/03/2024.
    • - Bị cáo Nguyễn Văn C 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 13/03/2024.
  3. Vật chứng: tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone XS Max, bên trong có gắn sim.

    Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) nắp chai nhựa có gắn 02 (hai) ống hút và 01 (một) ống thủy tinh được đựng trong phong bì niêm phong; 01 (một) bật lửa gas và 01 (một) vỏ chai C2.

    Đặc điểm của phong bì niêm phong và vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/08/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

  4. Án phí: buộc bị cáo Trịnh Văn Đ2 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn C.
  5. Quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Người bào chữa;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Hà Trung;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Hà Trung;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Hà Trung;
  • - Chi cục THADS huyện Hà Trung;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đào Văn Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 70/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chiều ngày 13 tháng 03 năm 2024, tại nơi ở của Trịnh Văn Đ2, thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, Trịnh Văn Đ2 và Nguyễn Văn C sau khi mua được chất ma túy, loại Methamphetamine, đã chuẩn bị dụng cụ để sử dụng đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger