|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q.HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 70/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16/9/2024 V/v "Ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Ảnh
Ông Trần Hải
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ly Na - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 16/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 140/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 35/QĐST-HNGĐ ngày 30/8/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lý Quỳnh T, sinh năm: 1981. Địa chỉ: K Q, quận H, thành phố Đà Nẵng, có mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Minh T1, sinh năm: 1972. Địa chỉ: A H, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn là bà Lý Quỳnh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Quỳnh T và ông Nguyễn Văn Minh T1 kết hôn với nhau vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại A H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh nhiều mâu thuẩn, nguyên nhân là do bà T và ông T1 không hòa hợp về quan điểm sống, ông T1 vô trách nhiệm trong việc nuôi dưỡng và giáo dục con, đến cuối năm 2017 thì ông T1 đã bỏ nhà đi, bà T cũng về địa chỉ K Q, quận H, thành phố Đà Nẵng sinh sống cùng các con. Từ đó đến nay, ông T1 không có trách nhiệm gì và vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2017. Nay bà T không còn tình cảm gì với ông T1 nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn Minh T1.
Về con chung: Bà Lý Quỳnh T xác định bà và ông Nguyễn Văn Minh T1 có 02 con chung: Nguyễn Thiên Nhã T2, sinh ngày: 09/07/2005 và Nguyễn An Diệu H, sinh ngày: 07/07/2010. Ly hôn, bà Lý Quỳnh T có nguyện vọng nuôi dưỡng Nguyễn An Diệu H và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Đối với con Nguyễn Thiên Nhã T2, sinh ngày 09/07/2005 đã đủ 18 tuổi, đã tự lập nên không có ý kiến gì.
Về tài sản chung: Bà Lý Quỳnh T không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Bà Lý Quỳnh T xác định không có.
* Bị đơn ông Nguyễn Văn Minh T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Nguyễn Văn Minh T1 vắng mặt không có lý do và không có bản khai.
Tài liệu chứng cứ của vụ án gồm: Bản sao trích lục kết hôn, bản sao căn cước công dân Lý Quỳnh T, bản sao giấy khai sinh Nguyễn An Diệu H, bản sao giấy khai sinh Nguyễn Thiên Nhã T2.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, phát biểu:
Đối với thủ tục tố tụng: Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự trong vụ án đã được đảm bảo thực hiện đúng, đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng ông Nguyễn Văn Minh T1 vắng mặt lần thứ hai tại phiên toà nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định.
Đối với nội dung vụ án: Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phần trình bày của đương sự tại phiên tòa hôm nay và các quy định của pháp luật, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của bà Lý Quỳnh T đối với ông Nguyễn Văn Minh T1.
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Lý Quỳnh T được ly hôn đối với ông Nguyễn Văn Minh T1.
Về con chung: Xử giao con chung Nguyễn An Diệu H, sinh ngày: 07/07/2010 cho bà Lý Quỳnh T trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Văn Minh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với con Nguyễn Thiên Nhã T2, sinh ngày 07/07/2005 đã đủ 18 tuổi nên không xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết và không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở để nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của bà Lý Quỳnh T đối với ông Nguyễn Văn Minh T1 là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại các Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Tòa án nhân dân quận Hải Châu đã triệu tập hợp lệ ông Nguyễn Văn Minh T1 để tham gia tố tụng, ông Nguyễn Văn Minh T1 vắng mặt lần thứ hai tại phiên toà, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn Minh T1.
[2] Về nội dung:
* Về quan hệ hôn nhân:
Bà Lý Quỳnh T và ông Nguyễn Văn Minh T1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng theo giấy chứng nhận kết hôn số 72, ngày 27/7/2004, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Xét thấy, hôn nhân giữa hai ông bà phù hợp với các quy định của pháp luật về điều kiện và thủ tục kết hôn, nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Bà Lý Quỳnh T cho rằng vợ chồng chung sống đến năm 2017 thì đã phát sinh mâu thuẩn trầm trọng. Nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp về quan điểm sống, ông T1 không có trách nhiệm trong việc nuôi dưỡng và giáo dục con. Tại biên bản xác minh do tổ trưởng tổ C, phường H, quận H cung cấp: Trước đây ông Nguyễn Văn Minh T1 và bà Lý Quỳnh T kết hôn có chung sống tại A H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Quá trình chung sống địa phương không nắm rõ có mâu thuẩn gì. Tuy nhiên hiện nay ông T1 đã đi khởi địa phương từ năm 2020, bà T cũng không còn sinh sống tại địa chỉ trên. Thực tế, ông T1 và bà T đã ly thân từ năm 2017 đến nay, các bên cũng không liên hệ, không quan tâm gì đến nhau và không có trách nhiệm gì với nhau. Tòa án đã triệu tập thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng yêu cầu ông T1 đến Toà án cung cấp lời khai, hòa giải và tham gia tố tụng tại phiên toà nhưng ông T1 không có mặt tại Tòa án. Do đó không thể tiến hành hoà giải để hàn gắn tình cảm giữa bà T và ông T1.
Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Lý Quỳnh T và ông Nguyễn Văn Minh T1 thực tế đã có mâu thuẫn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lý Quỳnh T đối với ông Nguyễn Văn Minh T1 là phù hợp.
* Về con chung: Bà Lý Quỳnh T xác định bà và ông Nguyễn Văn Minh T1 có 02 con chung: Nguyễn Thiên Nhã T2, sinh ngày 09/07/2005 và Nguyễn An Diệu H, sinh ngày: 07/07/2010. Ly hôn, bà T2 yêu cầu giao con chung Nguyễn An Diệu H cho bà Lý Quỳnh T trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, cháu Nguyễn An Diệu H đã chung sống với mẹ từ khi ông T1 bỏ đi đến nay, để đảm bảo cuộc sống ổn định về tâm sinh lý và không gây xáo trộn cho cháu, đồng thời cháu có nguyện vọng chung sống với mẹ nên giao con cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con, bà T không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
Đối với con Nguyễn Thiên Nhã T2, sinh ngày 07/07/2005 đã đủ 18 tuổi nên HĐXX không xem xét.
* Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lý Quỳnh T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và xác định không nợ ai, không ai nợ nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết. Sau này nếu có phát sinh tranh chấp thì các bên đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác.
[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng bà Lý Quỳnh T phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Lý Quỳnh T đã nộp tại biên lai thu số 0000444 ngày 05/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu. Bà Lý Quỳnh T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Chi phí đăng B là 3.041.674 đồng và chi phí đăng truyền hình Việt Nam là 1.005.556 đồng bà Lý Quỳnh T phải chịu, bà T đã nộp đủ.
[4] Xét những đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tại phiên tòa hôm nay là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về con chung” của bà Lý Quỳnh T đối với ông Nguyễn Văn Minh T1.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử: Cho bà Lý Quỳnh T được ly hôn đối với ông Nguyễn Văn Minh T1.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn An Diệu H, sinh ngày: 07/07/2010 cho bà Lý Quỳnh T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18. Ông Nguyễn Văn Minh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với con Nguyễn Thiên Nhã T2, sinh ngày 09/07/2005 đã đủ 18 tuổi nên không xét.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xét.
- Về nợ chung: Không có nên không xét.
- Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng bà Lý Quỳnh T phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Lý Quỳnh T đã nộp tại biên lai thu số 0000444 ngày 05/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu. Bà Lý Quỳnh T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chi phí đăng B là 3.041.674 đồng và chi phí đăng truyền hình Việt Nam là 1.005.556 đồng bà Lý Quỳnh T phải chịu, bà T đã nộp đủ.
- Về thời hạn kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Phương Thảo |
Bản án số 70/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG về ly hôn
- Số bản án: 70/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
