TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 70/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 05-9-2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Bùi Thị Út
- Bà Nguyễn Thị Minh Trâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Uyên Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang- T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 200/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hùng C – sinh năm 1979 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thái T – sinh năm 1981 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Địa chỉ: Khu phố C, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 01/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Hùng C trình bày:
- Về hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị Thái T tìm hiểu, chung sống với nhau và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 12/7/2004 tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P - T. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông chuyển vào Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống và làm việc. Đến năm 2017, vợ chồng ông sinh sống tại khu phố C, phường P, thành phố P - T. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc; tuy nhiên do tính chất công việc là tài xế nên ông thường xuyên vắng nhà, từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cải vã và dần không tìm được tiếng nói chung. Kể từ năm 2020, vợ chồng ông đã không còn sống chung với nhau, ông chuyển về sinh sống tại tỉnh Tây Ninh, còn bà T sinh sống tại thành phố P - T. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ nên ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thái T.
- Về con chung: Vợ chồng ông có 02 con chung tên Nguyễn Thanh H, sinh ngày 29/3/2004 và Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 16/6/2009. Hiện cháu H đã đủ 18 tuổi, lao động tự túc được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ly hôn, ông C đồng ý giao con chung tên Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 16/6/2009 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng và ông C đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 6.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Tại “Đơn xin giải quyết vắng mặt” ngày 08/8/2024, nguyên đơn Nguyễn Hùng C vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện và những ý kiến đã khai tại Tòa án.
Tại Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 10/4/2024, bị đơn bà Nguyễn Thị Thái T trình bày:
- Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Hùng C tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 2000, đến năm 2004 mới tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P - T ngày 12/7/2004. Trong quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc, không mâu thuẫn gì. Ông C là tài xế, công việc thường xuyên không ở nhà nhưng bà vẫn chịu đựng được. Hiện nay, vợ chồng vẫn còn chung sống với nhau. Mặc dù vợ chồng không còn thương yêu nhau như trước đây nhưng vì con cái nên bà sẽ chịu đựng và không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông C, việc ly hôn sẽ ảnh hưởng đến con cái vì 02 con vẫn còn đi học.
- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng bà có 02 con chung tên Nguyễn Thanh H, sinh ngày 29/3/2004 và Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 16/6/2009. Hiện cháu Nguyễn Thanh H đã trên 18 tuổi, lao động tự túc được. Trường hợp Toà án giải quyết ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 16/6/2009 và yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung cháu H1 số tiền 10.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi, lao động tự túc được. Hiện bà bán quần áo, thu nhập khoảng 6.000.000 đồng/tháng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải cũng như mở phiên tòa xét xử, bà Nguyễn Thị Thái T không đến Tòa án làm việc và vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án:
Đối với nguyên đơn: Đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đối với bị đơn: Mặc dù đã được Toà án tống đạt, niêm yết hợp lệ các thông báo tố tụng nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chỉ có lời khai duy nhất ngày 10/4/2024, tuy nhiên bị đơn lại không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật của các giai đoạn tố tụng. Tại phiên toà hôm nay, bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là thực hiện đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hùng C.
Về hôn nhân: Ông Nguyễn Hùng C và bà Nguyễn Thị Thái T được ly hôn.
Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 16/6/2009 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Hùng C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 7.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
Ngoài ra, đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn ông Nguyễn Hùng C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con với bị đơn bà Nguyễn Thị Thái T. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú ở phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về việc vắng mặt nguyên đơn, bị đơn:
Đối với nguyên đơn, tại “Đơn xin giải quyết vắng mặt” ngày 08/8/2024, nguyên đơn ông Nguyễn Hùng C xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện, những ý kiến đã khai tại Tòa án; đối với bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Ông Nguyễn Hùng C và bà Nguyễn Thị Thái T tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận ngày 12/7/2004; Hội đồng xét xử xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Hùng C vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn bà Nguyễn Thị Thái T, xét thấy: Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Ông C trình bày nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính chất công việc tài xế lái xe nên ông thường xuyên vắng nhà, từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cải vã và dần không tìm được tiếng nói chung; vợ chồng ông C, bà T đã không còn sống chung từ năm 2020, ông C sống tại tỉnh Tây Ninh, bà T sống tại thành phố P - T. Lời trình bày của ông C phù hợp với kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân phường P ngày 18/6/2024 (BL 24a). Bà T trình bày bà và ông C hiện vẫn còn sống chung nhưng không có tài liệu chứng minh. Bà T cũng thừa nhận ông C là tài xế, công việc thường xuyên không ở nhà. Bà T không đồng ý ly hôn chỉ với lý do việc ly hôn sẽ ảnh hưởng đến con cái mặc dù bà biết bà với ông C không còn yêu thương nhau như trước đây. Mặc khác, Tòa án tiến hành hòa giải để hàn gắn vợ chồng, tuy nhiên bà T không có mặt để hòa giải thể hiện bà T không có thiện chí và không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy, có căn cứ để xác định hôn nhân giữa ông C và bà T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn ông Nguyễn Hùng C.
[2.2] Về con chung:
Ông C và bà T có có 02 con chung tên Nguyễn Thanh H, sinh ngày 29/3/2004 và Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 16/6/2009. Hiện cháu H đã đủ 18 tuổi, lao động tự túc được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà T trình bày trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 16/6/2009 và ông C cũng đồng ý giao cháu H1 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 16/6/2009 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Bà T yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi cháu H1 số tiền 10.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi, lao động tự túc được. Quá trình giải quyết vụ án, ông C chỉ đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu H1 mỗi tháng từ 6.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng cho đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi, lao động tự túc được. Căn cứ Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình, cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên. Mặc dù ông C là người không trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1 nhưng ông C và bà T phải có nghĩa vụ ngang nhau trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H1. Căn cứ vào thu nhập và khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, Hội đồng xét xử chấp nhận mức cấp dưỡng nuôi cháu H1 là 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng)/tháng cho đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi, có khả năng lao động tự túc được.
[2.3] Tài sản chung và nợ chung:
Nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xét.
[3] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố P-T tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí:
Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 và 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn ông Nguyễn Hùng C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 53, 56, 57, 58, 71, 81, 82, 83 và 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 và 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hùng C.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Hùng C được ly hôn bà Nguyễn Thị Thái T.
- Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Thái T là người có quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung là cháu Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 16/6/2009.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Hùng C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng)/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, lao động tự túc được.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về án phí: Ông Nguyễn Hùng C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 300.000 đồng ông C đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001900 ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận. Ông C còn phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Bùi Thanh Tuấn |
Bản án số 70/2024/HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 70/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
