TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 70/2024/DS-ST
Ngày 22-8-2024
V/v "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đại Minh và bà Phan Thị Oanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phụng Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Cao Tấn Tiền – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 42/2024/TLST-DS ngày 07 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2024/QĐXX-ST ngày 29 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N; Địa chỉ: Số B đường L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội; Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Trần Ngọc D – Chức vụ: Cán bộ pháp chế Ngân hàng N – Chi nhánh P; Địa chỉ: C T, Phường D, thành phố T, tỉnh Phú Yên (Theo Giấy uỷ quyền số 1805/GUQ-NHNo.PY-TH ngày 20/8/2024 của Giám đốc Ngân hàng N – Chi nhánh P). Có mặt tại phiên toà.
- Bị đơn: Vợ chồng ông Nguyễn H, sinh năm 1977 và bà Cao Thị Bạch Y, sinh năm 1977; Địa chỉ: Khu phố P, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Bà Cao Thị Bạch Y có mặt tại phiên toà, ông Nguyễn H có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày: Vợ chồng ông Nguyễn H và bà Cao Thị Bạch Y có vay vốn tại Ngân hàng N theo Hợp đồng tín dụng số 4600-LAV-202002207 ngày 10/9/2020, hạn mức cho vay 200.000.000 đồng, thời gian duy trì hạn mức là 36 tháng, mục đích sử dụng vốn vay là phục vụ đời sống của hộ gia đình, lãi suất tại thời điểm ký Hợp đồng là 9,5%/năm, lãi suất cho vay và lãi suất quá hạn thoả thuận tại các báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ.
Để đảm bảo cho khoản vay, vợ chồng ông Nguyễn H và bà Cao Thị Bạch Y có thế chấp cho Ngân hàng N là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1660, tờ bản đồ số 255-C, địa chỉ thửa đất: Khu phố P, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 826960, số vào sổ cấp GCN: CH 02864 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 25/10/2012 đứng tên bà Cao Thị Bạch Y tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 09/2020/HĐTC/YEN ngày 08/9/2020 được ký kết giữa Ngân hàng N và vợ chồng ông Nguyễn H, bà Cao Thị Bạch Y có đăng ký giao dịch bảo đảm.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, vợ chồng ông Nguyễn H và bà Cao Thị Bạch Y đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi từ tháng 01/2024 cho đến nay, Ngân hàng đã nhiều lần làm việc trực tiếp và có văn bản yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn H và bà Cao Thị Bạch Y thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số 4600-LAV-202002207 ngày 10/9/2020 nhưng vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, liên tiếp vi phạm nghĩa vụ đã cam kết.
Do đó, Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Nguyễn H và bà Cao Thị Bạch Y phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số 4600-LAV-202002207 ngày 10/9/2020 tính đến ngày 22/8/2024, tổng cộng là 212.342.466 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 200.000.000 đồng, lãi trong hạn là 12.342.466 đồng) và kể từ ngày 23/8/2024 cho đến khi trả xong số tiền trên, vợ chồng ông Nguyễn H và bà Cao Thị Bạch Y còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 4600-LAV-202002207 ngày 10/9/2020 và các Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ được ký kết giữa Ngân hàng N và vợ chồng ông Nguyễn H, bà Cao Thị Bạch Y.
Trong trường hợp vợ chồng ông Nguyễn H và bà Cao Thị Bạch Y không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán số nợ nêu trên cho Ngân hàng N thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ.
Bị đơn bà Cao Thị Bạch Y trình bày: Vợ chồng bà có vay vốn tại Ngân hàng N theo Hợp đồng tín dụng số 4600-LAV-202002207 ngày 10/9/2020, hạn mức cho vay 200.000.000 đồng. Để đảm bảo cho khoản vay, vợ chồng bà có thế chấp cho Ngân hàng N là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1660, tờ bản đồ số 255-C, địa chỉ thửa đất: Khu phố P, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 826960, số vào sổ cấp GCN: CH 02864 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 25/10/2012 đứng tên bà tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 09/2020/HĐTC/YEN ngày 08/9/2020 được ký kết giữa các bên như người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày. Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, vợ chồng bà đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi từ tháng 01/2024 cho đến nay nên Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng bà phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 4600-LAV-202002207 ngày 10/9/2020 tính đến ngày 22/8/2024, tổng cộng là 212.342.466 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 200.000.000 đồng, lãi trong hạn là 12.342.466 đồng) và tiền lãi phát sinh thì bà đồng ý. Trong trường hợp vợ chồng bà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán số nợ nêu trên cho Ngân hàng thì bà đồng ý xử lý tài sản đã thế chấp để trả nợ.
Bị đơn ông Nguyễn H vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa:
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, bị đơn bà Cao Thị Bạch Y giữ nguyên ý kiến trình bày. Bị đơn ông Nguyễn H có đơn xin xét xử vắng mặt, không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 463, 466, 292, 293, 295, 298, 299 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 188 của Luật Đất đai; các Điều 100, 103 của Luật các tổ chức tín dụng. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N, buộc bị đơn vợ chồng ông Nguyễn H và bà Cao Thị Bạch Y phải trả tiền nợ gốc 200.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định. Trường hợp bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, nguyên đơn được quyền yêu cầu xử lý tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N về Hợp đồng tín dụng giữa pháp nhân và cá nhân không có mục đích kinh doanh là tranh chấp Hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn vợ chồng ông Nguyễn H và bà Cao Thị Bạch Y cư trú tại thành phố T, tỉnh Phú Yên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Về giải quyết vắng mặt của đương sự: Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn ông Nguyễn H để hòa giải và xét xử nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Hừng.
- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về hiệu lực của Hợp đồng: Hợp đồng tín dụng số 4600-LAV-202002207 ngày 10/9/2020 được ký kết giữa nguyên đơn Ngân hàng N và bị đơn vợ chồng ông Nguyễn H, bà Cao Thị Bạch Y có nội dung và hình thức phù hợp với quy định pháp luật nên có hiệu lực thi hành.
- Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 4600-LAV-202002207 ngày 10/9/2020 được ký kết giữa các bên và các tài liệu, chứng cứ khác, đủ cơ sở xác định: Bị đơn vợ chồng ông Nguyễn H và bà Cao Thị Bạch Y có vay của nguyên đơn Ngân hàng N số tiền 200.000.000 đồng, thời gian duy trì hạn mức là 36 tháng, mục đích sử dụng vốn vay là phục vụ đời sống của hộ gia đình, lãi suất tại thời điểm ký Hợp đồng là 9,5%/năm, lãi suất cho vay và lãi suất quá hạn thoả thuận tại các báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ. Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi cho Ngân hàng từ tháng 01/2024 cho đến nay, là vi phạm Hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N là có căn cứ chấp nhận, buộc bị đơn vợ chồng ông Nguyễn H và bà Cao Thị Bạch Y phải có trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn Ngân hàng N đến ngày 22/8/2024, tổng cộng là 212.342.466 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 200.000.000 đồng, lãi trong hạn là 12.342.466 đồng).
- Kể từ ngày 23/8/2024 cho đến khi trả xong nợ gốc, bị đơn còn phải tiếp tục trả lãi trên nợ gốc chưa thanh toán theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 4600-LAV-202002207 ngày 10/9/2020 và các Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ được ký kết giữa các bên.
- Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm, xét thấy: Tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của bị đơn vợ chồng ông Nguyễn H và bà Cao Thị Bạch Y, bị đơn cam đoan không phát sinh tranh chấp gì đối với tài sản thế chấp. Việc thế chấp tài sản để đảm bảo cho khoản vay của bị đơn tại Ngân hàng N được lập thành văn bản và có đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng trình tự, quy định tại các Điều 297, 298, 317, 318, 319 của Bộ luật Dân sự, các bên không ai có ý kiến gì nên Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 09/2020/HĐTC/YEN ngày 08/9/2020 được ký kết giữa các bên phát sinh hiệu lực nên buộc các bên phải thi hành. Do đó, trường hợp bị đơn không trả hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1660, tờ bản đồ số 255-C, địa chỉ thửa đất: Khu phố P, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 826960, số vào sổ cấp GCN: CH 02864 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 25/10/2012 đứng tên bà Cao Thị Bạch Y theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 09/2020/HĐTC/YEN ngày 08/9/2020 được ký kết giữa Ngân hàng N và vợ chồng ông Nguyễn H, bà Cao Thị Bạch Y để thu hồi nợ là có căn cứ theo quy định tại Điều 299, khoản 7 Điều 323 và Điều 368 của Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Căn cứ Điều 157 của Bộ luật tố tụng Dân sự, bị đơn vợ chồng ông Nguyễn H, bà Cao Thị Bạch Y phải chịu số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng, nguyên đơn Ngân hàng N đã nộp tạm ứng số tiền 2.000.000 đồng nên bị đơn phải có trách nhiệm hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 2.000.000 đồng.
- Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật, hoàn trả cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 297, 298, 299, 317, 318, 319, 323, 368, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N.
Buộc bị đơn vợ chồng ông Nguyễn H, bà Cao Thị Bạch Y phải có trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn Ngân hàng N đến ngày 22/8/2024, tổng cộng là 212.342.466 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 200.000.000 đồng, lãi trong hạn là 12.342.466 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (tức ngày 23/8/2024) cho đến khi trả xong nợ gốc, bị đơn vợ chồng ông Nguyễn H, bà Cao Thị Bạch Y còn phải tiếp tục trả lãi trên nợ gốc chưa thanh toán theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 4600-LAV-202002207 ngày 10/9/2020 và các Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ được ký kết giữa nguyên đơn Ngân hàng N và bị đơn vợ chồng ông Nguyễn H, bà Cao Thị Bạch Y.
Trường hợp bị đơn vợ chồng ông Nguyễn H, bà Cao Thị Bạch Y không trả hoặc trả không đầy đủ thì nguyên đơn Ngân hàng N được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1660, tờ bản đồ số 255-C, địa chỉ thửa đất: Khu phố P, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 826960, số vào sổ cấp GCN: CH 02864 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 25/10/2012 đứng tên bà Cao Thị Bạch Y theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 09/2020/HĐTC/YEN ngày 08/9/2020 được ký kết giữa nguyên đơn Ngân hàng N và bị đơn vợ chồng ông Nguyễn H, bà Cao Thị Bạch Y để thu hồi nợ.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Căn cứ Điều 157 của Bộ luật tố tụng Dân sự, bị đơn vợ chồng ông Nguyễn H, bà Cao Thị Bạch Y phải có trách nhiệm hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng N số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng.
- Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị đơn vợ chồng ông Nguyễn H, bà Cao Thị Bạch Y phải chịu 10.617.123 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng N số tiền 5.055.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002295 ngày 07 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh Vân |
Bản án số 70/2024/DS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 70/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và bị đơn Nguyễn Hừng, Cao Thị Bạch Yến
