|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 70/2024/HNGĐ-ST Ngày: 05/7/2024 “V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Anh Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Lý.
- Ông Nguyễn Văn Phước.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tường - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phong Điền, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024, về: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm: 1992; địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; địa chỉ liên lạc: Số nhà B, Ngõ A, phố B, thị trấn P, huyện K, tỉnh Hải Dương. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 03/6/2024.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 20/3/2024 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc Á trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc Á và anh Nguyễn Văn M tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế ngày 20/01/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống ở thành phố Đà Nẵng được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, anh M ham chơi, không lo làm ăn, sử dụng ma tuý nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cải vã, xúc phạm. Sau khi trở về quê, anh M vẫn tiếp tục chơi bời, sử dụng ma tuý, chị Á và gia đình khuyên bảo, hoà giải nhiều lần nhưng anh M vẫn không thay đổi, thậm chí còn đe doạ chị Á. Vợ chồng sống ly thân đã 02 năm. Nay chị Á xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh M.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc Á trình bày vợ chồng có 01 người con chung là cháu Nguyễn Văn Thiện N, sinh ngày 08/01/2017 hiện đang ở với chị Á. Chị Á yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N cho đến khi đủ 18 tuổi; không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Á không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn đã nộp các tài liệu, chứng cứ gồm: Giấy chứng nhận kết hôn; trích lục khai sinh cháu Nguyễn Văn Thiện N; bản sao căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị Ngọc Á, Nguyễn Văn M; đơn xin xác nhận mức lương của chị Á.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Nguyễn Văn M nhưng quá thời hạn luật định, anh M không có bản trình bày ý kiến, vắng mặt tại các phiên họp, phiên hòa giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được.
Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương và gia đình anh Nguyễn Văn M như sau: Anh Nguyễn Văn M có đăng ký thường trú tại địa phương, anh M và chị Nguyễn Thị Ngọc Á đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P ngày 20/01/2015, hiện tại anh M, chị Á không sống chung với nhau. Gia đình anh M cho biết vợ chồng anh M, chị Á xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hợp, anh M ham chơi và có sử dụng chất ma tuý nên vợ chồng hay cãi vã, xúc phạm; gia đình có khuyên bảo nhiều lần nhưng không khắc phục được mâu thuẫn, hai người đã sống ly thân khoảng 2 năm nay. Gia đình anh M đã nhận được đầy đủ các văn bản tố tụng do Toà án tống đạt và đã liên lạc, thông báo cho anh M về việc Toà án thụ lý vụ án ly hôn, anh M trình bày với gia đình đồng ý ly hôn chị Á nhưng bận công việc làm ăn không có mặt tại Toà án được, đề nghị giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa ngày 27/6/2024, anh M vắng mặt lần thứ nhất nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa đồng thời tống đạt quyết định hoãn phiên toà, giấy triệu tập cho anh M. Tại phiên toà lần thứ hai, anh M tiếp tục vắng mặt.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, nhiều lần vắng mặt tại phiên hòa giải, phiên tòa.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí xử buộc nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
2
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên toà, nhận định:
[1] Về tố tụng:
1.1. Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn là anh Nguyễn Văn M, có địa chỉ cư trú xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phong Điền.
1.2. Về thủ tục tố tụng: Theo quy định tại Điều 175, Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự, việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn là hợp lệ. Tại phiên tòa lần thứ nhất ngày 27/6/2024, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa, tống đạt quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập cho bị đơn. Tại phiên tòa lần thứ hai, bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do; nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc Á và anh Nguyễn Văn M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế ngày 20/01/2015, do đó quan hệ hôn nhân giữa hai người là hợp pháp. Vợ chồng chung sống được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, anh M ham chơi, không chăm lo làm ăn, sử dụng chất ma tuý nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cải vã, xúc phạm; chị Á cùng gia đình khuyên bảo nhiều lần nhưng anh M vẫn không thay đổi, thậm chí còn đe doạ chị Á. Vợ chồng sống ly thân đã 02 năm nay không quan tâm, chăm sóc cho nhau. Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã nhiều lần thông báo về phiên hoà giải nhưng anh M nhiều lần vắng mặt nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Á, anh M đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Á.
[2.2] Về việc nuôi con chung: Xét yêu cầu của chị Á về việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Văn Thiện N, sinh ngày 08/01/2017 thấy rằng: Cháu N hiện đang do chị Á chăm sóc, nuôi dưỡng; cháu N cũng có nguyện vọng được ở với mẹ; anh M không có ý kiến gì về việc nuôi con. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của chị Á về việc nuôi con sau khi ly hôn, giao cháu Nguyễn Văn Thiện N cho chị Á trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Á không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Ngọc Á phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
3
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc Á. Chị Nguyễn Thị Ngọc Á được ly hôn anh Nguyễn Văn M.
2. Về việc nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Văn Thiện N, sinh ngày 08/01/2017 cho chị Nguyễn Thị Ngọc Á trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.
Anh Nguyễn Văn M không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Nguyễn Văn M có quyền thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Ngọc Á phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000841 ngày 03/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chị Á đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Anh Nga |
4
5
Bản án số 70/2024/HNGĐ-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 70/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Hôn nhân và gia đình Nguyễn Thị Ngọc Á - Nguyễn Văn M
