Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ GIÁ RAI

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2023/DS-ST

Ngày 24 tháng 8 năm 2023

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI – TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quốc Khởi

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông: Nguyễn Thành Nhạn
  2. Ông: Sơn Hoài Tâm

- Thư ký phiên tòa: ông Lê Khắc Hải – thư ký Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Mộng Đẹp – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 17 và ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 107/2022/TLST-DS ngày 24 tháng 3 năm 2022 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2023/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: bà Ngô Thị N – sinh năm: 1946

Địa chỉ: Khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu

Người đại diện theo ủy quyền của bà Ngô Thị N là ông Trương Hoàng C – sinh năm: 1986

Địa chỉ: Ấp T, xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu

Bị đơn: ông Lâm Văn Đ – sinh năm: 1952

Địa chỉ: Khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Công ty cổ phần T2

Địa chỉ: số A, T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện: bà Chu Thị H – sinh năm: 1990

Địa chỉ: Lô T. 1.2, Đường D, Khu C, phường T, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh

Trần Thị N1 – sinh năm: 1953

Địa chỉ: Khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu

UBND thị xã G, tỉnh Bạc Liêu

Người đại diện: ông Đỗ Thanh T – Phó trưởng phòng TN-MT tỉnh Bạc Liêu.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Bà Nguyễn Việt Q – Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Trần Đức H1 – Chi nhánh B.

(Đại diện UBND thị xã G và đại diện C5 có yêu cầu vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Ngô Thị N trình bày theo đơn khởi kiện và lời khai:

Ngô Thị N có yêu cầu ông Lâm Văn Đ giao trả phần đất diện tích theo đo đạc thực tế là 363m² đất tại Khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Đất bà N có yêu cầu có nguồn gốc là của cụ Ngô Văn D cho bà N vào năm 1963, khi cho diện tích dài từ đầu lộ ấp 7 đến cổng nghĩa địa là 65m, ngang từ Q đến vành đai chiến lược, khi cho không có làm giấy tờ. Đến năm 1969 bà N ra cất nhà ở, ngày 31/3/1975 bà N có cho ông Mười V và vợ Thị K một phần đất ngang giáp Quốc Lộ A là 20m, dài đến vành đai chiến lược phần còn lại là của bà N. Khi thỏa thuận có chính quyền của chế độ cũ chứng kiến và giải quyết việc cho đất. Đến ngày 03/8/1993 phần đất cụ D để lại thì anh em đã phân chia và được chứng thực tại Phòng C6 tỉnh Minh Hải.

Đối với phần đất bà N yêu cầu thì năm 1988 cha của ông Đ là cụ Lâm Văn T1 có qua hỏi mượn bà N phần đất này để làm nơi chứa nước đá, khi cho mượn không có làm giấy tờ và có nói đến khi nào bà N cần thì trả lại cho bà N. Phần đất cho cụ T1 mượn ban đầu bà N cho ông Hà Văn K1 mượn trước, sau đó ông K1 trả lại thì bà N cho ông C1 mượn, sau khi ông C1 trả lại thì cho cụ T1 mượn. Đến năm 1991 cụ Lâm Văn T1 chết, con cụ T1 là ông Đ mới tiếp tục sử dụng phần đất mà bà N cho mượn để làm nơi chứa nước đá, đất chỉ làm nơi chứa nước đá chứ không có cất nhà hoặc xây dựng công trình mà chỉ là mái che. Đến ngày 09/6/2017 khi ông Đ cho Điện máy xanh thuê và xây dưng nên bà N mới ngăn cản và tranh chấp cho đến bây giờ. Trước thời điểm tranh chấp là tháng 06/1997 ông Đ có qua kêu bà N ký ủy quyền cho ông Đ để ông Đ quản lý thay bà N, nhưng bà N không đồng ý. Đến năm 2009 ông Đ nhờ chính quyền kêu bà N tiếp tục ký giáp ranh để làm quyền sử dụng đất, nhưng bà N có yêu cầu đo đạc rõ ràng nhưng bên ông Đ không đồng ý và kéo dài cho đến bây giờ.

Nay, bà N yêu cầu ông Đ giao trả cho bà N phần đất nêu trên. Trường hợp Tòa án giải quyết phần đất tranh chấp thuộc về bà N thì bà N đồng ý cho Công ty T2 thuê như nguyện vọng của đại diện Công ty. Đối với phần tiền cho thuê trước đây mà ông Đ đã nhận bà N không có yêu cầu.

Bị đơn ông Lâm Văn Đ trình bày theo lời khai:

Ông Đ không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị N. Về nguồn gốc đất bà N có yêu cầu là của vợ chồng ông Đ nhận chuyển nhượng của bà Trần Thị Ú vào ngày 30/4/1989, chuyển nhượng phía trước là 4,5m, phía sau 4m dài 32,6m vị trí chuyển nhượng là giáp đất với ông Trần Văn H2, khi chuyển nhượng với giá bao nhiêu thì ông Đ không nhớ. Phần còn lại là của ông Thạch V1, ông V1 bán cho ông Trần Hoàng A và ông Hoàng A chuyển nhượng lại cho mẹ ông Đ không ghi diện tích nhưng ghi trong giấy chuyển nhượng là 01 căn nhà và một công ngoài ruộng phía sau, sau đó mẹ ông Đ chuyển nhượng lại cho ông Đ.

Quá trình sử dụng đất: đối với phần đất hiện có tranh chấp ông Đ sử dụng để làm hãng nước đá bẹ (nước đá thẻ) và chứa những vật dụng trong gia đình, chưa xây dựng công trình, nhà cửa kiên cố. Ông Đ sử dụng từ năm 1990 đến tháng 02 năm 2022 mới phát sinh tranh chấp, trước đó bà N không có yêu cầu trong khi đất ông Đ và đất bà N cách nhau hơn 20m. Năm 2017, bà N có tranh chấp chỗ nhà kho của Công ty T2, nhưng không có đề cập đến nội dung chỗ phần đất đang tranh chấp bây giờ. Đất tranh chấp ông Đ chưa được cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất, nhưng có đi đăng ký sổ mục kê ruộng đất năm 1997, đến năm 2021 ông Đ đi đăng ký quyền sử dụng đất đối với phần đất này thì bà N mới phát sinh tranh chấp.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày theo lời khai:

Trần Thị N1 trình bày: Đất là vợ chồng bà N1 mua của bà Trần Thị Ú, quá trình sử dụng từ năm 1990 đến nay bà N không ngăn cản, năm 2017 có sự tranh chấp nhưng bà N không đưa ra, mà đến khi Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xử phúc thẩm xong thì mới phát sinh tranh chấp. Nay, bà N1 không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị N.

Đại diện Công ty cổ phần T2Chu Thị H trình bày theo lời khai: Công ty có ký kết hợp đồng với ông Lâm Văn Đ và bà Trần Thị N1 để thuê quyền sử dụng đất ngày 20/10/2017 thời hạn thuê là 08 năm, giá thuê hai năm đầu mỗi tháng là 19,000,000đ/tháng; 02 năm tiếp theo là 21,000,000đ/tháng và mỗi hai năm tiếp theo sẽ tăng lên thêm 2,000,000đ tiền thuê đất/tháng. Sau khi thuê thì Công ty chúng tôi đã xây dựng công trình phục vụ quá trình kinh doanh.

Về nội dụng tranh chấp giữa hai bên thì Công ty không có ý kiến. Nếu trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà N thì Công ty đề nghị tiếp tục ký kết hợp đồng với bà N kể từ ngày bản án có hiệu lực theo giá thuê và hợp đồng thuê đã ký kết với ông Đ.

Đại diện UBND thị xã G trình bày theo lời khai: Theo yêu cầu của bà Ngô Thị N có yêu cầu ông Lâm Văn Đ giao trả phần đất diện tích theo đo đạc thực tế là 363m² đất tại Khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Theo Công văn số 264/TNMT của Phòng Tài nguyên - Môi trường thị xã G xác định, phần đất tranh chấp nêu trên thuộc thửa số 53 tờ bản đồ số 51 do ông Lâm Văn Đ đứng tên kê khai trong sổ mục kê và hiện tại phần đất trên chưa cấp cho hộ gia đình, cá nhân nào. Do đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai, nên đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và nguyên đơn trình bày:

Về nguồn gốc đất tranh chấp theo lời trình bày của các nhân chứng như ông K1, bà L, bà C2 đều xác định phần đất bà N đang có yêu cầu, có nguồn gốc là của bà Ngô Thị N. Còn nguồn gốc đất ông Đ có được do ông Đ nhận chuyển nhượng bà Nguyễn Thị L1 mẹ ông Đ. Ông Hoàng A xác định khi chuyển nhượng đất cho cha mẹ ông Đ, ông có dẫn ông T1 và bà L1 để chỉ ranh như ông Thạch V1 đã chỉ ranh cho ông Hoàng A, ngoài ra ông Hoàng A không bán thêm phần đất nào khác, cha mẹ ông Đ cũng không nhận chuyển nhượng thêm phần đất nào khác, ông D1 cẩm H3 không có đất tại đây.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lâm Văn Đ trình bày: Bà N xác định cho cụ T1 mượn đất nhưng bà N không có chứng cứ gì chứng minh là có cho cụ T1 mượn đất, quá trình sử dụng đất bà N cũng không kê khai đăng ký đất đai, không thực hiện quyền quản lý, sở hữu thực tế đối với phần đất đang có tranh chấp. Trong khi ông Đ là người trực tiếp quản lý sử dụng đất từ năm 1988 qua các hình thức sử dụng như làm mái che, mở rộng hãng nước đá, thực hiện nghĩa vụ đóng thuế đất đai và đã kê khai đăng ký và ông Đ đã quản lý, sử dụng đất hơn 30 năm nhưng bà N không có ý kiến, không có sự tranh chấp. Nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị N.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát:

  1. Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định của luật tố tụng dân sự; Diễn biến tại phiên tòa Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo luật định.
  2. Đối với người tham gia tố tụng: nguyên đơn và bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định.

2. Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tạm ngưng phiên tòa để tiến hành thẩm định lại phần kết cấu công trình của Công ty cổ phần T2 do trong biên bản thẩm định chưa thể hiện kết cấu xây dựng công trình và xác minh bổ sung thêm con của bà Trần Thị Ú để xác định bà Ú có chuyển nhượng đất cho ông Đ hay không.

Sau khi nghiên cứu vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: bà Ngô Thị N có yêu cầu ông Lâm Văn Đ giao trả phần đất diện tích 363m² thuộc thửa số 53 tờ bản đồ số 51 đất tại Khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Về thủ tục tố tụng: Do những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đại diện UBND thị xã G và đại diện Công ty cổ phần T2 có yêu cầu được xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đại diện UBND thị xã G và đại diện Công ty cổ phần T2 theo quy định.

3. Về nội dung vụ án: bà Ngô Thị N có yêu cầu ông Lâm Văn Đ giao trả phần đất cụ thể như sau: Phần I: diện tích 285,0m²; Phần II: diện tích 77,4m² thuộc thửa số 53 tờ bản đồ số 51 đất tại Khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

Căn cứ yêu cầu: đất bà Ngô Thị N được ông nội bà N là cụ Ngô Văn D cho lại bà Ngô Thị N, khi cho diện tích là dài từ đầu lộ ấp 7 đến cổng nghĩa địa, ngang từ Q đến vành đai chiến lược, khi cho không có làm giấy tờ. Đến gày 31/3/1975 bà N có cho ông Mười V và vợ Thị K một phần đất ngang giáp Quốc Lộ A là 20m, dài đến vành đai chiến lược phần còn lại là của bà N. Khi thỏa thuận thì có chính quyền của chế độ cũ chứng kiến và giải quyết.

Đối với phần đất bà N có tranh chấp thì năm 1988 cha của ông Đ là ông Lâm Văn T1 có quan hỏi mượn để làm nơi chứa nước đá, khi cho mượn không có làm giấy tờ và có nói đến khi nào cần thì trả lại đất. Đến năm 1991 thì cụ T1 chết, ông Đ mới tiếp tục sử dụng phần đất mượn để làm nơi chứa nước đá, đến ngày 09/6/2017 khi ông Đ cho Điện máy xanh thuê và xây dựng nên bà N ngăn cản và tranh chấp cho đến bây giờ. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, bà N đã cung cấp các tài liệu chứng cứ: Biên bản thỏa thuận chia ranh đất ngày 31/3/1975, Văn bản phân chia di sản thừa kế, lời khai của các nhân chứng ông Trần Hoàng A, ông Hà Văn K1, bà Lâm Kim L2, bà Hà Thị Chu .

Bị đơn ông Lâm Văn Đ không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị N với căn cứ: Về nguồn gốc đất ông Đ có được do nhận chuyển nhượng của bà Trần Thị Ú ngày 30/4/1989 diện tích ngang 4,5m dài 32,6m, (nguồn gốc đất của bà Ú có được do ông Dương Cẩm H4 bán cho bà Ú ngày 09/10/1988) khi chuyển nhượng thì bà Ú giao giấy tờ lại cho ông. Phần còn lại là của ông Thạch V1, ông V1 bán cho ông Hoàng A và ông Hoàng A chuyển nhượng lại cho mẹ ông và mẹ ông chuyển nhượng lại cho ông. Ông Hoàng A chuyển nhượng cho mẹ ông không ghi diện tích nhưng ghi trong giấy chuyển nhượng là 01 căn nhà và một công ngoài ruộng phía sau, phần giấy tay ông Hoàng A tự viết và giao cho mẹ ông và xác nhận cuối năm 2021 là chữ viết và chữ ký của ông Hoàng A. Ngoài ra ông còn nhận chuyển nhượng của bà Lâm Hồng C3 (hiện tại không biết bà C3 đang ở đâu, còn sống hay chết).

Quá trình sử dụng đất: đối với phần đất hiện có tranh chấp ông Đ sử dụng để làm hãng nước đá bẹ và chứa những vật dụng trong gia đình. Đến năm 1997 ông xây dựng hãng nước đá chỗ phần đất ông mua của bà Trần Thị Ú, ông Đ sử dụng từ năm 1990 đến tháng 02 năm 2022 mới phát sinh tranh chấp, quá trình sử dụng đất ông đã kê khai đăng ký và đứng tên trong sổ mục kê, thực hiện nghĩa vụ đóng thuế đối với nhà nước.

Hội đồng xét xử xét thấy: theo lời trình bày của các nhân chứng như ông Hà Văn K1, bà Lâm Kim L2, bà Hà Thị C4 đều xác định phần đất bà N đang có yêu cầu có nguồn gốc là của bà Ngô Thị N, thời điểm trước năm 1980 bà N đã cho bà C4, ông K1, ông C1 mượn để ở, đến khoảng năm 1980 thì trả lại đất cho bà Ngô Thị N. Căn cứ lời khai của ông Trần Hoàng A xác định: Nguồn gốc ông Đ có được do ông chuyển nhượng cho cha mẹ ông Đ là ông Lâm Văn T1, bà Nguyễn Thị L1 vào khoảng tháng 7- 8/1978. Khi chuyển nhượng ông Thạch V1 có chỉ ranh và có bà N đến gặp và xác định đất ông Thạch V1 ngang 20m dài từ mí lộ vô vành đai chiến lược. Ông Hoàng A xác khi chuyển nhượng có dẫn ông T1 và bà L1 để chỉ ranh như ông Thạch V1 chỉ ranh, ngoài ra không bán thêm phần đất nào, cha mẹ ông Đ cũng không nhận chuyển nhượng thêm phần đất nào khác, ông D1 cẩm H4 (con ông C1) không có đất tại đây.

Thấy rằng, lời trình bày của các nhân chứng phù hợp với biên bản thỏa thuận chia đất giữa bà Ngô Thị N và ông Thạch V1 ngày 31/3/1975 mà bà N cung cấp. Bởi lẻ, tại biên bản ngày 31/3/1975 xác định: “Bà K được 20m ngang mặt tiền lộ mới, chạy dài đến vòng đai chiến lược. Những phần còn lại từ ranh của bà K qua cặp con đê hoàn toàn về phần của bà Ngô Thị N làm chủ”. Sau khi ông V1 được chia đất, đến ngày 26/5/1978 ông V1 đã chuyển nhượng lại cho ông Trần Hoàng A nền nhà và phần ruộng phía sau, đến tháng 7/8-1978 ông Hoàng A đã chuyển nhượng lại phần đất trên cho cha và mẹ ông Đ, đến năm 1991, mẹ ông Đ chuyển nhượng lại cho ông Đ phần đất nêu trên. Ông Đ cho rằng, ngoài việc nhận chuyển nhượng của mẹ ông Đ thì năm 1989 ông nhận chuyển nhượng của bà Trần Thị Ú, đất bà Ú có được do nhận chuyển nhượng từ ông Dương Cẩm H4 ngang trước 4,5m, sau 4m dài 32,6m. Theo lời trình bày của ông Dương Cẩm p xác định: ông P là con Chiêu, em ông H4. “... năm 1980-1986 cụ D1 Chiêu sinh sống Khóm A-Láng Tròn nhưng chỉ đi tới lui bán dầu chai, có thuê chỗ trong chợ L3 được 03-04 năm thì về sinh sống với các con. Ông C1 hoàn toàn không có đất gì tại đây. Năm 1986 ông P có nghe ông H4 mua một phần đất nhưng không biết mua của ai và mua chỗ nào và không biết dùng để làm gì hay bán lại cho ai...” nhưng phía ông P không biết ông H4 mua đất của ai và mua chỗ nào. Nhưng theo sự thỏa thuận giữa bà N và ông Thạch V1 xác định rằng, từ ranh của bà K qua con đê thuộc hoàn toàn của bà Ngô Thị N, không còn phần đất của ai khác. Mặt khác, theo bản án phúc thẩm số 95/2021/DSPT ngày 03/12/2021 tại trang số 9 từ hàng thứ 2 đến thứ 7 bản án đã nhận định “hiện nay phía gia đình ông Đ gồm anh em ông Đ và cả ông Đ sử dụng phần đất chiều ngang giáp Quốc Lộ A là trên 33m và chiều ngang giáp lộ Bê tông là 35m. Trong khi cha, mẹ ông Đ chỉ nhận chuyển nhượng từ ông Trần Hoàng A là ngang 20m”. Từ những cơ sở trên có căn cứ xác định rằng phần đất giữa bà N và ông Đ đang có tranh chấp có nguồn gốc là của bà Ngô Thị N.

Xét lời trình bày của bà Ngô Thị N cho rằng, năm 1988 bà N có cho cha ông Đ là cụ Lâm Văn T1 mượn đất sử dụng làm để làm nơi chứa nước đá, nhưng mượn không có làm giấy tờ. Đến năm 1991 cụ T1 chết, ông Đ tiếp tục sử dụng đến năm 2017 thì phát sinh tranh chấp do ông Đ cho Điện máy xanh thuê. Ông Đ cho rằng, cha ông Đ hoàn toàn không có mượn đất của bà N, bản thân ông cũng không có mượn đất của bà N, quá trình sử dụng đất đối với phần đất hiện đang có tranh chấp đến năm 2022 mới phát sinh tranh chấp, trước đó chỉ tranh chấp phần đất phía sau đã giải quyết xong.

Thấy rằng, bà N xác định cho cụ T1 mượn, nhưng bà N không có chứng cứ gì chứng minh là có cho cụ T1 mượn đất, quá trình sử dụng đất bà N cũng không kê khai đăng ký đất đai, không thực hiện quyền quản lý, sở hữu thực tế đối với phần đất đang có tranh chấp. Trong khi ông Đ là người trực tiếp quản lý sử dụng đất từ năm 1988 qua các hình thức sử dụng như làm mái che, mở rộng hãng nước đá, thực hiện nghĩa vụ đóng thuế đất đai và đã kê khai đăng ký. Bà N cho rằng năm 2017 đất phát sinh tranh chấp do ông Đ cho Điện máy xanh thuê nên không đồng ý. Tuy nhiên, qua xem xét những chứng cứ do bà N cung cấp thể hiện việc tranh chấp là ở phần đất phía sau (phần phía sau đã được giải quyết xong), phần hiện đang có tranh chấp chỉ đến năm 2022 mới phát sinh tranh chấp và không chứng minh được mình có cho mượn đất. Từ đó thấy rằng, ông Đ đã quản lý, sử dụng đất hơn 30 năm nhưng bà N không có ý kiến, không có sự tranh chấp và đã thực hiện quyền của người chủ sử dụng đất như kê khai đăng ký, thực hiện nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước.

Từ những phân tích trên, thấy rằng ông Đ đã chiếm hữu, sử dụng đất hơn 30 năm liên tục, công khai nên việc bà Ngô Thị N có yêu cầu ông Đ giao trả phần đất diện tích; Phần I: diện tích 77,4m², Phần II: diện tích 285,6m²thuộc thửa số 53 tờ bản đồ số 51 đất tại Khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu là không có căn cứ chấp nhận.

Xét về hợp đồng quyền sử dụng đất giữa ông Lâm Văn ĐCông ty cổ phần T2. Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị N nên Hợp đồng ký kết giữa ông ĐCông ty cổ phần T2 sẽ tiếp tục được thực hiện theo thỏa thuận.

Xét ý kiến đề xuất của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai có yêu cầu tạm ngưng phiên tòa để thẩm định lại kết cấu của cửa hàng Điện máy xanh và xác minh lời khai của con bà Trần Thị Út .1 Thấy rằng, việc thu thập thêm những chứng cứ nêu trên là không cần thiết, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Xét quan điểm trình bày của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông Đ là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về chi phí đo đạc, thẩm định và định giá tài sản: Do yêu cầu của bà Ngô Thị N không được chấp nhận nên bà N có nghĩa vụ chịu tiền chi phí đo đạc, thẩm định và định giá 3,424,000đ. Bà N đã dự nộp tiền chi phí đo đạc, thẩm định là 5,000,000₫ được đối trừ. Bà N được nhận lại 1,576,000đ tại Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai.

Về án phí: căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326, do bà Ngô Thị N là người cao tuổi và có đơn xin được miễn án phí, nên miễn án phí cho bà Ngô Thị N.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  • Áp dụng khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; Điều 228; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Áp dụng Điều 236 của Bộ luật dân sự năm 2015;
  • Áp dụng Điều 166; Điều 170; Điều 203 của Luật đất đai năm 2013;

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị N về việc có yêu cầu ông Lâm Văn Đ giao trả phần đất có vị trí như sau:

H: Giáp đất ông Lâm Văn Đ dài 35,45m

Hướng Tây: Giáp đất ông Trần Văn H2, ông Hà Văn P1 dài 32,89m + 9m + 9,45m;

Hướng N2: G Quốc Lộ A dài 8,2m

Hướng Bắc: Giáp phần đất tranh chấp trước đây giữa bà N và ông Đ dài 17m.

Diện tích: Phần I: diện tích 77,4m², Phần II: 285,6m²thuộc thửa số 53 tờ bản đồ số 51 đất tại Khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

2. Về chi phí đo đạc, thẩm định và định giá: bà N có nghĩa vụ chịu tiền chi phí đo đạc, thẩm định và định giá 3,424,000đ. Bà N đã dự nộp tiền chi phí đo đạc, thẩm định là 5,000,000₫ được đối trừ. Bà N được nhận lại 1,576,000đ tại Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai.

3. Về án phí: căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326, do bà Ngô Thị N là người cao tuổi và có đơn xin được miễn án phí, nên miễn án phí cho bà Ngô Thị N.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Quốc K2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2023/DS-ST ngày 24/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI – TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 70/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI – TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Thị Năm -= Lâm Văn Đức
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger