Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 70/2023/HS-ST

Ngày 25-12-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Danh Phạm Ngọc Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thành Thái

Ông Danh Chung.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Kiều Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 63/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

L, sinh năm 1988; Nơi cư trú: 175 TĐ, phường A, thành phố R, tỉnh KG; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông C (chết) và bà H; có vợ tên: T; Có 02 người con ruột, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2019;

Tiền án: có 01 tiền án: Ngày 27/4/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xử phạt 1 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 30/12/2021 chấp hành xong hình phạt, đến ngày 09/4/2022 L tiếp tục phạm tội nên chưa được xóa án tích.

Tiền sự: có 01 tiền sự: Ngày 05/8/2020 bị can bị Công an xã Mỹ Lâm, huyện Hòn Đất tỉnh Kiên Giang xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản, chưa nộp phạt.

Nhân thân: Ngày 13/02/2008 bị cáo bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc tại Cồn Cát với thời hạn là 24 tháng về hành vi Gây rối trật tự công cộng theo Quyết định số 1763/QĐ-UB(NC) ngày 14/9/2007, đến ngày 30/10/2009 chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/8/2023 (theo quyết định truy nã).

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Ông B, sinh năm 1968.

Địa chỉ: ấp V, xã VHP, huyện CT, tỉnh KG.

(Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người làm chứng: Ông D, sinh năm 1980.

Địa chỉ: ấp V, xã VHP, huyện CT, tỉnh KG.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

L (sinh năm: 1988, nơi thường trú: 175 TĐ, phường A, thành phố R, tỉnh KG) và Q (sinh năm: 1986, Cư trú: 74/4/15 T, khu phố 4, phường A, thành phố R, tỉnh KG) là bạn bè ngoài xã hội với nhau. Vào khoảng 8 giờ ngày 09 tháng 4 năm 2022, L rủ Q đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài thì Q đồng ý. Để thực hiện ý định trên, L điều khiển xe mô tô biển số kiểm soát 67K7-1665 (xe trên của L mua lại nhưng chưa sang tên chủ sở hữu) chở Q ngồi phía sau đến khu vực ấp V, xã VHP, huyện CT, tỉnh KG.

Khi đến trước nhà của ông B thuộc ấp V, xã VHP, huyện CT, tỉnh KG, L thấy nhà ông B không có người trông coi nên dừng xe lại, L xuống xe lén lút đi vào trong nhà tìm tài sản, Q thì ở bên ngoài canh đường. Khi vào bên trong, L thấy chiếc tivi màn hình phẳng 40 inch để trong nhà nên đi đến lấy chiếc tivi trên đem ra xe nơi Q đợi sẵn. Trộm được tài sản, Q điều khiển xe chở L ôm tivi ngồi phía sau chạy đi. Nghe thấy tiếng động, bà C (vợ ông B) và và chị H (con gái ông B) đang ở phía sau nhà chạy ra thì phát hiện Q và L lấy trộm tivi nên tri hô và điện thoại cho ông B biết sự việc. Sau khi nghe tin, ông B đã tổ chức đi tìm Q và L, đồng thời nhờ ông D đứng ở Ụ tàu “Hiệp An” thuộc ấp VHI, xã VHP, huyện CT, tỉnh KG để chặn bắt Q và L. Một lúc sau, Q và L chở chiếc tivi đi từ hướng ấp VHII chạy đến nên ông D cùng người dân xung quanh tổ chức bắt giữ Q và L cùng tang vật bàn giao cho Công an xã Vĩnh Hòa Phú. Tại Công an xã Vĩnh hòa Phú, Q và L thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 20/KL-HĐĐGTS ngày 21/6/2022 của Hội đồng thẩm định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Thành kết luận: 01 (một) Tivi LCD, nhãn hiệu Sony màu đen, 40 inch, model No.KLV-40BX450 tại thời điểm xảy ra vụ việc có giá trị là 2.417.000 đồng.

Đối với Q sau khi vụ án xảy ra đã bị khởi tố, điều tra, truy tố và bị Tòa án xét xử về tội Trộm cắp tài sản vào ngày 14/11/2022 với mức hình phạt 1 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về vật chứng trong vụ án: Đã xử lý xong tại bản án số 78/2022/HS-ST ngày 14/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

* Tại bản cáo trạng số: 67/CT-VKS-CT ngày 31/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo L phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo L từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong tại bản án số 78/2022/HS-ST ngày 14/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như nội dung cáo trạng và kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: bị cáo biết lỗi và hối hận về hành vi của bản thân gây ra xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như bản Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vì động cơ vụ lợi, nên khoảng 08 giờ, ngày 09 tháng 4 năm 2022, L rủ Q đi trộm cắp tài sản thì Q đồng ý. Khi đến trước nhà ông B (thuộc khu vực ấp V, xã VHP, huyện CT, tỉnh KG) thì cả hai phát hiện không có người nên Phi L đã lén lút đi vào bên trong lấy trộm tài sản, còn Q thì đứng bên ngoài canh đường. Khi đi vào trong nhà Phi L đã lén lút lấy trộm chiếc Tivi LCD, nhãn hiệu Sony màu đen, 40 inch (có giá trị là 2.417.000 đồng) và đang vận chuyển chiếc Tivi đi thì bị bắt. Đối với Q, sau khi vụ án xảy ra đã bị khởi tố, điều tra, truy tố và bị Tòa án xét xử về tội Trộm cắp tài sản với mức hình phạt 01 năm tù (tại bản án hình sự sơ thẩm số 78 ngày 14/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang).

Từ những căn cứ trên cho thấy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo gây ra: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Bị cáo nhận thức được việc lén lút lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Mặc dù biết trước được hậu quả xảy ra, thế nhưng với bản chất tham lam, lười lao động chỉ muốn hưởng thụ nên mặc dù đã 01 lần bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm tù về hành vi trộm cắp tài sản và bị cáo vừa chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 30/12/2021, chưa được xóa tích thì bị cáo lại thực hiện hành vi lấy trộm tivi. Điều này thể hiện bị cáo không biết sửa đổi, hành vi của bị cáo không những gây ảnh

hưởng trực tiếp đến điều kiện vật chất của bị hại mà còn gây mất an ninh trật tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Do đó, HĐXX nghị án thảo luận nhận thấy cần phải có mức án nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo nhằm phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Qua hồ sơ thể hiện ngày 21/4/2021, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” với mức 01 năm tù, bị cáo chấp hành xong vào ngày 30/12/2021, chưa được xóa án tích thì đến ngày 09/4/2022 bị cáo lại thực hiện hành vi lấy trộm chiếc tivi của người bị hại. Bên cạnh đó, trong lần phạm tội này khi bị bắt quả tang và đang trong giai đoạn khởi tố, điều tra thì Cơ quan điều tra cho bị cáo được tại ngoại thì bị cáo lại bỏ đi khỏi nơi cư trú, do đó Cơ quan điều tra phải ra Quyết định truy nã bị cáo, gây khó khăn và kéo dài việc điều tra, truy tố, xét xử bị cáo, đến ngày 16/8/2023 thì mới bắt được bị cáo. Do đó cần áp dụng cho bị cáo thêm tình tiết tăng nặng là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản lấy trộm đã được thu hồi trả lại cho người bị hại. Do đó, cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo khi xem xét mức hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại ông B xác định đã nhận lại tài sản bị mất trộm là chiếc tivi SONY màu đen 40 inch Model: No.KLV-40BX450 và không có yêu cầu bị cáo chịu trách nhiệm dân sự hay yêu cầu bồi thường gì thêm, do đó HĐXX không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe mô tô mà bị cáo và Q sử dụng làm phương tiện để đi trộm tài sản đã được xử lý tại Bản án hình sự sơ thẩm số 78 ngày 14/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang nên HĐXX không xem xét.

[7] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc định tội danh, khung hình phạt, về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận để xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo có nghĩa vụ nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo L 15 (mười lăm) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam: ngày 16/8/2023.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tiếp tục tạm giam bị cáo L 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý tại Bản án hình sự sơ thẩm số 78 ngày 14/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang nên HĐXX không xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo có nghĩa vụ nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND H. Châu Thành;
  • - Cơ quan điều tra - Công an H. Châu Thành;
  • - Chi cục THADS H. Châu Thành;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Danh Phạm Ngọc Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2023/HS-ST ngày 25/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 70/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: L phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger