Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲ CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 70/2024/HS-ST

Ngày: 20 – 9 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Đông.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lương Văn Duẩn.

2/ Bà Phan Thị Duệ.

- Thư ký phiên toà: Bà Vị Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Lâm – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2024/TLST – HS ngày 23 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn Đ, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1997 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản N, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H và bà Lô Thị T; có vợ là Hà Thị Đ1 và 01 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/6/2024 đến nay. (Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị T1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N – Công tác tại Chi nhánh trợ giúp pháp lý Nhà nước số 2, thị xã T, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 10/6/2024 Lê Văn Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE Alpha, biển kiểm soát 37G1-164.26 đi từ xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An về nhà của mình ở bản N, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Khi Đ đi qua khu vực sân bóng xóm Đ, xã C, huyện Q thì gặp một nam thanh niên không rõ lai lịch, địa chỉ có biểu hiện giống người sử dụng chất ma túy nên Đ dừng xe lại bắt chuyện làm quen, qua trao đổi biết nam thanh niên có ma túy nên hỏi mua để sử dụng và được nam thanh niên đồng ý bán, sau khi Đ đưa số tiền 100.000₫ (Một trăm nghìn đồng) nam thanh niên đi đâu đó khoảng 20 phút quay trở lại đưa cho Đ 01 (một) gói nhỏ, lớp ngoài cùng được bọc bằng mảnh bao ni lon màu trắng, lớp thứ hai bọc bằng mảnh giấy bạc màu vàng, bên trong gói chứa chất bột rắn màu trắng, giao gói ma túy xong nam thanh niên rời đi. Sau khi mua được ma túy Đ cầm trong lòng bàn tay trái của mình điều khiển xe về nhà. Khoảng 19 giờ 30 phút khi đến khu vực ngã ba đường thuộc bản Đ, xã C thì Đ bị lực lượng Công an đang làm nhiệm vụ yêu cầu dừng xe kiểm tra hành chính, Đ dừng xe lại đồng thời thả trong lòng bàn tay trái xuống mặt đất nơi mình đang đứng gói ma túy vừa mua nhưng bị phát hiện, bị tổ công tác lập biên bản giữ người và niêm phong vật chứng đưa về tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định.

Tại biên bản mở niêm phong vật chứng xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, lập ngày 10/6/2024 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An, xác định: Sau khi mở niêm phong, bên trong gói niêm phong có 01 (một) gói chất rắn màu trắng được bọc bằng giấy bạc màu vàng, bên ngoài bọc bằng bao nilon màu trắng, gói chất rắn màu trắng có khối lượng cả bì là 0,235g (Không phẩy hai trăm ba mươi lăm gam); Sau khi loại bỏ bao bì, số chất rắn màu trắng còn lại có khối lượng là 0,11g (Không phẩy mười một gam). Cán bộ kỹ thuật hình sự trích toàn bộ chất rắn màu trắng nói trên để đưa đi giám định tính chất ma túy. Số vật chứng còn lại bao gồm mảnh giấy bạc thuốc lá màu vàng, mảnh bao nilon màu trắng và toàn bộ vỏ bao niêm phong cũ sau khi kiểm tra, lấy mẫu xong được niêm phong lại theo đúng quy định.

Kết luận giám định số: 669/KL-KTHS(Đ2-MT), ngày 18/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “- Mẫu chất rắn màu trắng thu giữ của Lê Văn Đ gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

- Số chất rắn màu trắng thu giữ của Lê Văn Đ có khối lượng là 0,11g (không phẩy mười một gam).”

Bản cáo trạng số: 71/CT-VKS-QC ngày 23/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, truy tố bị cáo Lê Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn Đ từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam. Buộc bị cáo chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, ngoài ra đề nghị không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy số vật chứng còn lại gồm mảnh bao bạc thuốc lá, mảnh bao nilon màu trắng cùng toàn bộ vỏ bao lấy mẫu, niêm phong cũ đã được niêm phong lại theo đúng quy định. Trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave Alpha, màu xanh, biển kiểm soát 37G1-164.26, xe đã qua sử dụng cho gia đình bị cáo.

- Bản bào chữa của người bào chữa cho bị cáo: Không có ý kiến tranh luận gì về tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc đến các yếu tố bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, có trình độ nhận thức về pháp luật hạn chế, bị cáo phạm tội lần đầu và nhằm mục đích để thỏa mãn cơn nghiện, không nhằm mục đích thu lợi bất chính, khối lượng ma túy ít, gia đình thuộc diện khó khăn, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Từ những phân tích đã nêu đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đối với vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe máy và không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đối với phần xử lý vật chứng và án phí đề nghị xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, không bổ sung thêm vào lời bào chữa cho mình. Lời nói sau cùng tại phiên tòa bị cáo nhận tội và xin xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những chứng cứ xác định có tội: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra Công an thu thập có tại hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại; kết luận giám định; bản tự khai, biên bản hỏi cung, lấy lời khai của bị cáo và người liên quan, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, cũng như những tài liệu, chứng cứ khách quan khác thu thập có trong hồ sơ, đủ căn cứ xác định:

Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 10/6/2024 tại khu vực ngã ba thuộc bản Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Trong lúc tiến hành kiểm tra hành chính đối với bị cáo Lê Văn Đ, lực lượng Công an bắt quả tang bị cáo có hành vi thả từ trong lòng bàn tay trái của mình xuống mặt đất nơi đang dừng xe 01 (một) gói nhỏ ma túy (Heroine) được bọc bằng hai lớp, lớp ngoài cùng bằng mảnh bao nilon màu trắng, bên trong là lớp bao bạc thuốc lá màu vàng với mục đích để sử dụng, khối lượng ma túy sau khi loại bỏ bao gói có tổng trọng lượng là 0,11g (Không phẩy mười một gam). Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, theo như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an ninh xã hội tại địa phương, bởi ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và bệnh truyền nhiễm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của chất ma túy cũng như thực hiện các hành vi trái phép liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, để nhằm thỏa mãn nhu cầu bất hợp pháp của cá nhân đã cố ý phạm tội, nên cần lên cho bị cáo mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để bị cáo được giáo dục, có thời gian cải tạo, sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.

[4] Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng thêm hình phạt bổ sung. Tuy nhiên theo tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện, bị cáo là lao động tự do không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, hiện đang bị tạm giam, không có tài sản riêng và khả năng thi hành án, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Căn cứ vào lời khai nhận của bị cáo Cơ quan điều tra Công an đã tiến hành điều tra, xác minh về người thanh niên bán ma túy cho bị cáo nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

[7] Về vật chứng: Khối lượng ma túy 0,11g (không phẩy mười tám gam) đã được gửi đi giám định hết, số vật chứng còn lại gồm mảnh giấy bạc thuốc lá màu vàng, mảnh bao nilon màu trắng cùng vỏ bao niêm phong cũ là những vật không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Chiếc xe mô tô bị cáo sử dụng được xác định là tài sản chung hợp pháp của gia đình bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, do đó cần xem xét trả lại cho bị cáo.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 10/6/2024.

  2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu hủy những vật chứng còn lại gồm: Mảnh giấy bạc thuốc lá màu vàng, mảnh bao nilon màu trắng và vỏ bao niêm phong cũ được bỏ vào 01 (một) phong bì thư dán kín mặt trước ghi: “Vật chứng còn lại thuộc vụ Lê Văn Đ - Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 10/6/2024 tại bản Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An”...
    • - Trả lại cho bị cáo Lê Văn Đ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave Alpha, màu xanh, biển kiểm soát 37G1-164.26, số khung RLHJA3918LY179795, số máy JA39E1517695, xe không có gương chiếu hậu và đã qua sử dụng (Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao, nhận vật chứng, lập ngày 28/8/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An).
  3. Án phí: Căn cứ vào Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Lê Văn Đ chịu án phí Hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Quỳ Châu;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Quỳ Châu;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Quỳ Châu;
  • - Cơ quan THADS huyện Quỳ Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Châu Hạnh, huyện Quỳ Châu, NA;
  • - Bị cáo;
  • - lưu HS, VP;

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hà Văn Đông

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 70/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đ là người nghiện chất ma túy đã mua được 01 gói ma túy từ một người không rõ lai lịch với mục đích để sử dụng, bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu số ma túy Heroine là 0,11g.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger