Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN ĐỀ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 70/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 19 - 7 - 2024

V/v ly hôn, tranh chấp

về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Mỹ Xuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Hoàng Việt.

Bà Hà Ngân Kim Tới.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Khánh Huy – Thư ký của Tòa án nhân dân huyện

Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham

gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Ngọc – Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 157/2024/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 5 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Triệu Thị C; Sinh năm: 1991. Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Có mặt).
  2. Bị đơn: Thạch T; Sinh năm: 1989. Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 4 năm 2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là bà Triệu Thị C trình bày:

- Về hôn nhân: bà Triệu Thị C và ông Thạch T tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 58, ngày 21/02/2011. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng bất đồng ý kiến và thường xuyên cãi vã nhau. Nay bà C xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà và ông Thạch T không còn, nên bà C yêu cầu ly hôn với ông Thạch T; Về con chung: Trong quá trình chung sống bà C và ông T có 02 người con chung tên là Thạch Thị Mỹ T1, sinh ngày 24/3/2012 và Thạch Thị Ngọc X, sinh ngày 14/11/2019. Hiện nay cháu T1 và cháu X đang sống chung với bà C. Bà C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Thạch Thị Mỹ T1, sinh ngày 24/3/2012 và Thạch Thị Ngọc X, sinh ngày 14/11/2019 cho đến khi thành niên, không yêu cầu ông Thạch T phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời gian chung sống bà C và ông Thạch T không có tài sản chung và không có nợ chung, nên bà C không có yêu cầu gì.

* Tại bản tự khai ngày 04/6/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Thạch T trình bày: Về hôn nhân: Ông T không thống nhất ly hôn với bà Triệu Thị C, vì ông còn thương vợ; Về con chung: Nếu trong trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn thì ông T yêu cầu nuôi con chung là Thạch Thị Mỹ T1, sinh ngày 24/3/2012 cho đến khi thành niên, không yêu cầu bà C phải cấp dưỡng nuôi con. Đồng thời, ông T cũng thống nhất giao con chung là Thạch Thị Ngọc X, sinh ngày 14/11/2019 cho bà C nuôi dưỡng đến khi thành niên, ông T sẽ không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Trong vụ án này Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng đối với bị đơn không chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là xử cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn, xử giao cháu Thạch Thị Mỹ T1, sinh ngày 24/3/2012 và Thạch Thị Ngọc X, sinh ngày 14/11/2019 cho bà C nuôi dưỡng đến khi thành niên; Về tài sản chung và nợ chung, không có đề nghị gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    Ông Thạch T là bị đơn trong vụ án, ông T đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông T.
  2. Về nội dung vụ án:
    1. Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Triệu Thị C và ông Thạch T là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nhưng ông bà không trao đổi, bàn bạc về việc hôn nhân của ông bà nhằm tạo điều kiện chung sống lại với nhau. Tại phiên tòa bà C yêu cầu được ly hôn với ông T là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho bà C được ly hôn với ông T. Ông T không đồng ý ly hôn, nhưng ông T không tìm giải pháp hàn gắn lại hạnh phúc gia đình, nên yêu cầu của ông T không có cơ sở để chấp nhận.
    2. Về con chung: Trong thời gian chung sống bà C và ông T có 02 người con chung tên là Thạch Thị Mỹ T1, sinh ngày 24/3/2012 và Thạch Thị Ngọc X, sinh ngày 14/11/2019. Bà C yêu cầu nuôi con chung là Thạch Thị Mỹ T1, sinh ngày 24/3/2012 và Thạch Thị Ngọc X, sinh ngày 14/11/2019 cho đến khi thành niên, không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con. Tại bản tự khai ngày 04/6/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Thạch T trình bày: Nếu trong trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn thì ông T yêu cầu nuôi con chung là Thạch Thị Mỹ T1, sinh ngày 24/3/2012 cho đến khi thành niên, không yêu cầu bà C phải cấp dưỡng nuôi con. Đồng thời, ông T cũng thống nhất giao con chung là Thạch Thị Ngọc X, sinh ngày 14/11/2019 cho bà C nuôi dưỡng đến khi thành niên, ông T sẽ không phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Tại biên bản ghi nguyện vọng của cháu T1 ngày 07/6/2024 thì cháu T1 có nguyện vọng sống chung với bà C. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình giao các cháu Thạch Thị Mỹ T1, sinh ngày 24/3/2012 và Thạch Thị Ngọc X, sinh ngày 14/11/2019 cho bà C nuôi dưỡng đến khi thành niên, do bà C không yêu cầu ông Thạch T phải cấp dưỡng nuôi con, nên ông Thạch T không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cho ông Thạch T, không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
    3. Về tài sản chung và nợ chung:C và ông T không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
    4. Về án phí dân sự sơ thẩm:Triệu Thị C phải chịu nghĩa vụ án phí đối với vụ án hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng; Ông Thạch T không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 17 Luật phí và Lệ phí; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Triệu Thị C.

  1. Về hôn nhân: Xử cho bà Triệu Thị C được ly hôn với ông Thạch T.
  2. Về con chung: Giao cháu Thạch Thị Mỹ T1, sinh ngày 24/3/2012 và Thạch Thị Ngọc X, sinh ngày 14/11/2019 cho bà C trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi cháu T1 và cháu X thành niên. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cho ông T, không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà C và ông T không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Triệu Thị C phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình, nhưng bà C được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004183 ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà C đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm; Ông Thạch T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bà Triệu Thị C có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Thạch T không có mặt tại phiên tòa thì có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Trần Đề;
  • - Chi cục THADS huyện Trần Đề;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Mỹ Xuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HNGĐ-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 70/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Triệu Thị C yêu cầu ly hôn với ông Thạch T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger