|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 70/2024/HS-ST Ngày 19-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Duyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Kim Niệm;
Ông Phạm Xuân Hào.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Linh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 15, 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Đỗ Văn S (tên gọi khác: Đ), sinh ngày 20 tháng 9 năm 1998 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Ấp A, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn S1, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1981; tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/02/2024 cho đến nay; có mặt.
- Họ và tên: Thái Thành T1, sinh ngày 11 tháng 4 năm 1992 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Khu phố C, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thái Văn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1951; tiền sự: Không;
Tiền án: Căn cứ Bản án hình sự sơ thẩm số 80/2017/HSST ngày 12/6/2017 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương đã xử phạt bị cáo T1 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 784/GCN ngày 01/9/2021 của Trại giam T3, Cục C xác nhận bị cáo T1 ngày chấp hành xong án phạt tù 01/9/2021. Căn cứ Quyết định thi hành án chủ động số 267/QĐ-CCTHADS ngày 02/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng và Giấy xác nhận kết quả thi hành án số 01/GXN-THA ngày 09/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng xác nhận bị cáo T1 đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm và tất cả các khoản phải thi hành xong ngày 09/01/2018.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/02/2024 cho đến nay; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đỗ Văn S1, sinh năm 1976; địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Ông Diệp Nguyễn Minh K, sinh năm 2000; địa chỉ: Ấp H, phường T, thị xã C, tỉnh Bình Phước; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ ngày 09/02/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Đỗ Văn S gọi điện thoại qua M cho Thái Thành T1 để hỏi mua ma túy với giá 300.000 đồng thì T1 đồng ý. Khoảng 20 giờ cùng ngày, S điều khiển xe môtô Yamaha Sirius, biển số 61H1-179.78 đến nhà của T1 tại thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương để mua ma tuý đá. Khi S đến, T1 nhờ D Nguyễn Minh K ra gặp S lấy 300.000 đồng (K không biết là tiền mua bán ma túy giữa T1 và S). Đưa tiền cho K xong, S điều khiển xe về nhà còn K đi vào đưa tiền cho T1. Sau khi nhận được tiền, T1 liên hệ qua zalo với 01 đối tượng tên V (chưa rõ nhân thân lai lịch) ở thị trấn L để mua 01 bịch ma túy với giá 250.000 đồng thì V đồng ý và chỉ chỗ cất giấu ma túy cho T1 biết, T1 đến gốc cây cột điện trên đường bê tông số F, khu phố C, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương lấy bịch ma túy theo chỉ dẫn của V và để 250.000 đồng ở vị trí có bịch ma túy cho V (T1 hưởng lợi 50.000 đồng từ việc mua bán ma túy cho S và đã tiêu xài cá nhân hết). Khi có ma túy thì T1 đi về nhà. Khoảng 10 phút sau thì S đến lấy ma túy từ T1. Sau khi mua ma túy xong, S cầm ma tuý đá ở tay trái và điều khiển xe mô tô đi về. Khi đến đoạn đường lô cao su tư nhân thuộc ấp A, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương, S thấy lực lượng Công an xã T đang tuần tra nên S ném ma tuý xuống gốc cây cao su, tắt đèn xe. Công an xã T đã tiến hành kiểm tra hành chính và phát hiện ma tuý đá có khối lượng là 0,1866 gam mà S đã ném dưới gốc cây cao su. Công an xã T đã lập biên bản và đưa S về trụ sở làm việc. Sau đó chuyển cho Công an huyện P giải quyết.
Quá trình điều tra, Công an huyện P thu giữ: 01 bịch nylong được hàn kín bên trong có chứa chất rắn, dạng tinh thể màu trắng (nghi là ma tuý đá) có khối lượng 0,1866 gam.
Kết luận giám định số 932/KL-KTHS(MT) ngày 16/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,1866 gam. H1 lại đối tượng sau giám định: Mẫu vật được niêm phong.
Xử lý vật chứng: Hoàn lại sau đối tượng giám định 01 (một) bì thư ghi 932/PC09 có chữ ký Đỗ Văn S (người chứng kiến); Nguyễn Ngọc D1 (bên giao mẫu); Bồ T (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS Công an tỉnh B có khối lượng 0,0972 gam là ma túy, loại Methamphetamine.
01 (một) xe mô tô biển số 61H1-179.78. Đây là tài sản của ông Đỗ Văn S1. Ông S1 cho S mượn xe để đi lại, việc S lấy xe đi mua ma túy ông S1 không biết. Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã trả lại xe mô tô trên cho ông S1, ông S1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
01 (một) điện thoại di động OPPO màu xanh đen. Đây là tài sản của Đỗ Văn S sử dụng để mua ma túy.
01 (một) điện thoại di động OPPO màu đen. Đây là tài sản của Thái Thành T1 sử dụng liên hệ để mua bán ma túy.
Tại bản Cáo trạng số 61/CT-VKSPG ngày 07/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo Đỗ Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Thái Thành T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và tuyên phạt bị cáo Đỗ Văn S mức hình phạt từ 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù;
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Thái Thành T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 2 Điều 52 của Bộ luật Hình sự và tuyên phạt bị cáo T2 Thành Tâm mức hình phạt từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù”.
Về xử lý vật chứng: 01 (một) bì thư ghi 932/PC09 có chữ ký Đỗ Văn S (người chứng kiến) Nguyễn Ngọc D1 (bên giao mẫu); Bồ T (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS Công an tỉnh B có khối lượng 0,0972 gam là ma túy, loại Methamphetamine. Đây là vật cấm tàng trữ lưu hành, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
01 (một) điện thoại di động OPPO màu xanh đen (niêm phong có dấu đỏ của Chi cục THADS huyện P, chữ ký Phạm Thị H2 và Trần Hoàng M1), là công cụ dùng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
01 (một) điện thoại di động OPPO màu đen (niêm phong có dấu đỏ của Chi cục THADS huyện P, chữ ký Phạm Thị H2 và Trần Hoàng M1), là công cụ dùng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Văn S và bị cáo Thái Thành T1 thừa nhận do có nhu cầu sử dụng ma túy nên ngày 09/02/2024, bị cáo S gọi điện Messenger cho bị cáo T1 hỏi mua 300.000 đồng ma túy thì bị cáo T1 đồng ý. Sau khi lấy tiền của bị cáo S, bị cáo T1 gọi điện qua zalo cho đối tượng tên V (không rõ nhân thân lai lịch) mua ma túy với giá 250.000 đồng để bán lại cho bị cáo S (mục đích hưởng lợi 50.000 đồng). Sau khi lấy được ma túy, bị cáo S điều khiển xe đi đến lô cao su thuộc ấp A, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương bị lực lượng Công an xã T, huyện P tuần tra, kiểm tra phát hiện S tàng trữ 0,1866 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng.
Các bị cáo thống nhất với kết luận của cơ quan giám định về khối lượng, loại chất ma túy, tội danh, mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị và không có ý kiến khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo Đỗ Văn S: Bị cáo biết tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về đoàn tụ gia đình.
Lời nói sau cùng của bị cáo Thái Thành T1: Bị cáo biết mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Đỗ Văn S, Thái Thành T1 khai nhận:
- Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên ngày 09/02/2024, bị cáo S gọi điện Messenger cho bị cáo T1 hỏi mua 300.000 đồng ma túy thì bị cáo T1 đồng ý. Sau khi lấy tiền của bị cáo S, bị cáo T1 gọi điện qua zalo cho đối tượng tên V (không rõ nhân thân lai lịch) mua ma túy với giá 250.000 đồng để bán lại cho bị cáo S (mục đích hưởng lợi 50.000 đồng). Sau khi lấy được ma túy, bị cáo S điều khiển xe đi đến lô cao su thuộc ấp A, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương bị lực lượng Công an xã T tuần tra, kiểm tra phát hiện bị cáo S tàng trữ 0,1866 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng.
- Căn cứ Kết luận giám định số 932/KL-KTHS(MT) ngày 16/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,1866 gam, đây là khối lượng ma túy thu giữ của Đỗ Văn S.
- Hành vi của bị cáo Đỗ Văn S tàng trữ trái phép chất ma túy có trọng lượng 0,1866 gam (loại Methamphetamine) nhằm mục đích sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- Hành vi của bị cáo T2 Thành Tâm gọi điện thoại qua zalo để mua ma túy với giá 250.000 đồng rồi bán lại cho bị cáo S nhằm mục đích hưởng lợi nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
- Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo Đỗ Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Thái Thành T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
- Hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây tổn hại đến sức khỏe của bản thân các bị cáo mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác.
- Xét động cơ, mục đích phạm tội vì thỏa mãn nhu cầu sử dụng của cá nhân, các bị cáo đã bất chấp pháp luật, hậu quả gây ra cho xã hội để thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Đỗ Văn S là người liên hệ mua ma túy nhằm mục đích để sử dụng; đối với bị cáo Thái Thành T1 biết mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn tham gia mua ma túy để bán cho bị cáo Đỗ Văn S nhằm mục đích hưởng lợi; do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt các bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đỗ Văn S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Thái Thành T1 đã chấp hành hình phạt 07 (bảy) năm tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 80/2017/HSST ngày 12/6/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội. Hành vi phạm tội lần này của bị cáo được xem là tái phạm. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đỗ Văn S thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; bị cáo có ông bà ngoại là người có công với cách mạng theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Thái Thành T1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản áp dụng, mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.
- Về xử lý vật chứng: 01 (một) bì thư ghi 932/PC09 có chữ ký Đỗ Văn S (người chứng kiến) Nguyễn Ngọc D1 (bên giao mẫu); Bồ T (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS Công an tỉnh B có khối lượng 0,0972 gam là ma túy, loại Methamphetamine. Đây là vật cấm tàng trữ lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động OPPO màu xanh đen (niêm phong có dấu đỏ của Chi cục THADS huyện P, chữ ký Phạm Thị H2 và Trần Hoàng M1), là công cụ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- 01 (một) điện thoại di động OPPO màu đen (niêm phong có dấu đỏ của Chi cục THADS huyện P, chữ ký Phạm Thị H2 và Trần Hoàng M1), là công cụ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với ông D1 Nguyễn Minh K là người nhận số tiền 300.000 đồng từ bị cáo S, ông K không biết đây là tiền mua bán ma túy giữa bị cáo T1 và bị cáo S nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không có cơ sở xử lý, Viện kiểm sát không truy tố. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành xét hỏi cách ly và đối chất các bị cáo và ông K. Kết quả, ông K thừa nhận có nhận dùm bị cáo T1 từ bị cáo S số tiền 300.000 đồng nhưng không biết đó là tiền mua bán trái phép chất ma túy, không biết quá trình mua bán trái phép chất ma túy giữa bị cáo T1 và bị cáo S; các bị cáo cũng thừa nhận ông K không biết và không liên quan đến quá trình mua bán ma túy giữa các bị cáo (khi đang tổ chức uống rượu cùng nhiều người đêm 30 Tết tại nhà bị cáo T1, do ông K ngồi ở vị trí gần cửa thuận tiện nên bị cáo T1 nhờ lấy tiền dùm); lời khai này phù hợp với lời khai của ông K trong quá trình tố tụng và phù hợp với lời khai của các bị cáo tại biên bản đối chất và kết quả tranh tụng tại phiên tòa nên Viện kiểm sát không truy tố là có căn cứ.
- Đối với đối tượng tên V (không rõ nhân thân lý lịch) bán ma túy cho bị cáo T1 tại đường bê tông số F, khu phố C, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tiếp tục xác minh xử lý sau là phù hợp.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 251; Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tuyên bố bị cáo Thái Thành T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt:
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
- Xử phạt bị cáo Đỗ Văn S 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 09/02/2024.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo T2 Thành Tâm 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày 10/02/2024.
- Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án gồm: 01 (một) bì thư ghi 932/PC09 có chữ ký Đỗ Văn S (người chứng kiến) Nguyễn Ngọc D1 (bên giao mẫu); Bồ T (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng KTHS Công an tỉnh B có khối lượng 0,0972 gam là ma túy, loại Methamphetamine.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động OPPO màu xanh đen (niêm phong có dấu đỏ của Chi cục THADS huyện P, chữ ký Phạm Thị H2 và Trần Hoàng M1). 01 (một) điện thoại di động OPPO màu đen (niêm phong có dấu đỏ của Chi cục THADS huyện P, chữ ký Phạm Thị H2 và Trần Hoàng M1).
Các vật chứng trên được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/6/2024.
- Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Thái Thành T1 phải nộp lại số tiền 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) thu lợi trái pháp luật từ việc mua bán trái phép chất ma túy để nộp ngân sách Nhà nước.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo Đỗ Văn S, Thái T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hữu Duyên |
Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 70/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn S và đồng phạm mua bán trái phép chất ma túy
