|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG Bản án số: 70/2024/HS-ST Ngày 18/7/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thế Dũng và Lý Thúy Hà
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Chi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoàng A - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Nguyễn Điểm T; Sinh ngày 02/10/2007; Tên gọi khác: Không;
Nơi cư trú: Thôn B, xã P, huyện V, tỉnh Hà Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Họ tên bố: Nguyễn Văn C - sinh năm 1975; Họ tên mẹ: Cù Thị B; sinh năm 1984;
- Vợ, con: Không.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân: Nguyễn Điểm T hiện đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh Hà Giang điều tra về hành vi trộm cắp tài sản xảy ra ngày 03/12/2023 tại tổ F, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Giang.
* Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/4/2024 tại xã P, huyện V, tỉnh Hà Giang, đến ngày 19/4/2024 bị bắt tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt
+ Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Thế N - Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt
2/ Họ và tên: Lâm Quốc H; Sinh ngày 30/01/2008; Tên gọi khác: Không;
Nơi cư trú: Thôn B, xã K, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Họ tên bố: Lâm Văn T1 (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1969; Vợ, con: Không.
- Tiền án, tiền sự: Không.
* Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/4/2024 tại xã K, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt
+ Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Thế N - Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt
+ Người đại diện của bị cáo Nguyễn Điểm T: Bà Cù Thị B, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện V, tỉnh Hà Giang. Có mặt.
+ Người đại diện của bị cáo Lâm Quốc H: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1969. Địa chỉ: Thôn B, xã K, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt
* Bị hại:
- Anh Trần Minh Đ, sinh năm 1999. Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt
- Anh Phạm Minh Đ1, sinh năm 2004. Địa chỉ: Thôn C, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Lệ T2, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn C, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt
- Bà Cù Thị B, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện V, tỉnh Hà Giang. Có mặt
- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1969. Địa chỉ: Thôn B, xã K, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 28/02/2024, Nguyễn Điểm T, sinh ngày 02/10/2007, trú tại thôn Bản Mán, xã P, huyện V, tỉnh Hà Giang và Lâm Quốc H, sinh ngày 30/01/2008, trú tại thôn B, xã K, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là xe mô tô tại tổ dân phố A, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, cụ thể:
Lần 1: Khoảng 20 giờ ngày 27/02/2024, Nguyễn Điểm T rủ Lâm Quốc H đi trộm cắp tài sản tại thành phố T, H đồng ý. Khoảng 02 giờ ngày 28/02/2024, T đi xe taxi đến đón H tại khu vực cây xăng xã K, thành phố T. T và H cùng đi xe taxi đến khu vực phường T, thành phố T rồi xuống xe đi bộ, mục đích tìm xe mô tô của người dân để sơ hở thì trộm cắp. Khoảng 02 giờ 40 phút cùng ngày, T và H quan sát thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu sơn bạc, biển số 22B2-133.50 của anh Trần Minh Đ, trú tại tổ dân phố A, phường T, thành phố T, được dựng ở trước cửa quán internet “T-Gaming” thuộc tổ dân phố A, phường T, thành phố T nhưng không có người trông coi. T bảo H đi ra ngã tư cách vị trí để xe mô tô khoảng 20m để đợi, còn T đi vào trước quán internet trộm cắp chiếc xe mô tô biển số 22B2-133.50 rồi dắt ra ngoài, dùng bật lửa mang theo từ trước đốt vỏ nhựa của dây ổ khóa điện rồi đấu nối dây điện để khởi động xe mô tô, sau đó T điều khiển xe mô tô vừa trộm cắp được ra đón H.
Lần 2: Khoảng 03 giờ ngày 28/02/2024, T và H quan sát thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu sơn đen, biển số 22Y1-326.93 của anh Phạm Minh Đ1, trú tại thôn C, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, được dựng ở trước cửa quán bi-a “Passion Billiards” thuộc tổ dân phố A, phường T, thành phố T nhưng không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô này. Tựa để H điều khiển xe mô tô biển số 22B2-133.50 còn T đi bộ vào sân quán B1 trộm cắp xe mô tô biển số 22Y1-326.93 rồi dắt ra ngoài đường, đi đến chỗ H đợi. Tựa cùng H đẩy xe mô tô này ra khu vực cách quán bi-a khoảng 02 km thì dừng lại, T tiếp tục sử dụng bật lửa đốt vỏ nhựa dây ổ khóa điện rồi đấu dây điện để khởi động xe mô tô biển số 22Y1-326.93. Tựa cùng H điều khiển 02 xe mô tô vừa trộm cắp được xuống thành phố Hà Nội để tìm chỗ bán xe. Tại đây, T bán cho hai người đàn ông (không xác định được tên, địa chỉ cụ thể) xe mô tô biển số 22B2-133.50 với giá 3.000.000 đồng và xe mô tô biển số 22Y1-326.93 với giá 6.000.000 đồng. Tựa chia cho H 3.000.000 đồng nhưng sau đó T đã lấy lại số tiền trên và một mình chi tiêu cá nhân hết 9.000.000 đồng có được từ việc bán 02 xe mô tô trộm cắp.
Tại Kết luận định giá tài sản số 16 ngày 15/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T kết luận:
Xe môtô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển số 22B2-133.50 trị giá 10.150.000 đồng.
Xe môtô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển số 22Y1-326.93 trị giá 14.500.000 đồng.
Vật chứng: Đối với xe mô tô biển số 22B2-133.50, xe mô tô biển số 22Y1-326.93, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được. Đối với chiếc bật lửa Tựa sử dụng để trộm cắp tài sản, T khai sau khi trộm xe xong đã vứt đi, không có căn cứ để truy tìm, thu giữ.
Dân sự: Người bị hại anh Trần Minh Đ yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 10.150.000 đồng, anh Phạm Minh Đ1 yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 14.500.000 đồng. Ngày 03/6/2024, Nguyễn Điểm T đã nhờ bà Cù Thị B (mẹ của T) nộp số tiền 10.000.000 đồng (theo Biên lai thu tiền số 0000312 ngày 03/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang), Lâm Quốc H đã nhờ bà Nguyễn Thị M (mẹ của H) nộp số tiền 10.000.000 đồng (theo Biên lai thu tiền số 0000311 ngày 03/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang) để bồi thường cho người bị hại trong vụ án.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Nguyễn Điểm T và Lâm Quốc H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng: Biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, lời khai của bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 61/CT-VKSTP ngày 04/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang đã truy tố các bị cáo Nguyễn Điểm T; Lâm Quốc H về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo Nguyễn Điểm T; Lâm Quốc H theo nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Điểm T; Lâm Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Điểm T từ 09 (chín) tháng tù đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/4/2024
Xử phạt bị cáo Lâm Quốc H từ 06 (sáu) tháng tù đến 01 (một) năm tù Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 03/6/2024, Nguyễn Điểm T đã nhờ bà Cù Thị B (mẹ của T) nộp số tiền 10.000.000 đồng (theo Biên lai thu tiền số 0000312 ngày 03/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang), Lâm Quốc H đã nhờ bà Nguyễn Thị M (mẹ của H) nộp số tiền 10.000.000 đồng (theo Biên lai thu tiền số 0000311 ngày 03/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang) để bồi thường cho người bị hại trong vụ án.
Trước khi mở phiên tòa gia đình các bị cáo đã bồi thường thêm cho bị hại Trần Minh Đ số tiền 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng). Bồi thường thêm cho bị hại Phạm Minh Đ1 số tiền 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Các bị hại nhất trí số tiền bồi thường, không đề nghị về dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Bà Trần Lệ T2 nhất trí, không đề nghị gì về phần dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa Bà Cù Thị B và bà Nguyễn Thị M không yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền mỗi bà đã đã nộp 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để bồi thường cho các bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 02 người đàn ông đã mua xe mô tô do T, H trộm cắp mà có, do không xác định được tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra, xử lý đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo và miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Điểm T do bị cáo sống ở xã đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí và buộc bị cáo Lâm Quốc H phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Trợ giúp viên pháp lý trình bầy: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65; Điều 90; Điều 91 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lâm Quốc H mức thấp nhất và cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Điểm T mức thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang tranh luận do tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo Lâm Quốc H. Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm.
Tại phiên tòa, các bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, không có tình tiết mới; các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá tài sản; các bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.
Kết thúc phần tranh tụng, bị cáo Nguyễn Điểm T nói lời sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi sai trái xin Hội đồng xét xử cho bị cáo T được hưởng mức án nhẹ nhất. Bị cáo Lâm Quốc H nói lời sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi sai trái xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố, do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh: Kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, bản tự khai của các bị cáo, biên bản xác minh, lời khai bị hại cùng các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 28/02/2024, Nguyễn Điểm T, sinh ngày 02/10/2007, trú tại thôn Bản Mán, xã P, huyện V, tỉnh Hà Giang và Lâm Quốc H, sinh ngày 30/01/2008, trú tại thôn B, xã K, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại tổ dân phố A, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, cụ thể:
Lần 1: Khoảng 02 giờ 40 phút ngày 28/02/2024, tại tổ dân phố A, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, Nguyễn Điểm T và Lâm Quốc H có hành vi trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển số 22B2-133.50 trị giá 10.150.000 đồng (mười triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) của anh Trần Minh Đ, trú tại tổ dân phố A, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.
Lần 2: Khoảng 03 giờ ngày 28/02/2024, tại tổ dân phố A, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, Nguyễn Điểm T và Lâm Quốc H có hành vi trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển số 22Y1-326.93 trị giá 14.500.000 đồng (mười bốn triệu năm trăm nghìn đồng) của anh Phạm Minh Đ1, trú tại thôn C, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
Tổng trị giá tài sản Nguyễn Điểm T và Lâm Quốc H trộm cắp là 24.650.000 đồng (hai mươi tư triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đã có hành vi lén lút, bí mật trốn tránh sự phát hiện của người quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản của họ. Hành vi của các bị cáo được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp, mục đích vụ lợi; hành vi của các bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu của người khác về tài sản. Các bị cáo đồng phạm giản đơn do vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật cần chấp nhận.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Điểm T và bị cáo Lâm Quốc H bị áp dụng tình tiết tăng nặng: Phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quy định tại điểm b, điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Bị cáo H có ông nội là thương binh nên các bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Xét thấy, tính chất mức độ phạm tội của các bị cáo rất manh động, nguy hiểm nên Hội đồng xét xử không nhất trí cho bị cáo Lâm Quốc H hưởng án treo như trợ giúp viên pháp lý đề nghị mà chấp nhận mức án như vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là người dưới 18 tuổi không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận ngày 03/6/2024 bị cáo Nguyễn Điểm T đã nhờ bà Cù Thị B (mẹ của T) nộp số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0000312 ngày 03/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang. Bị cáo Lâm Quốc H đã nhờ bà Nguyễn Thị M (mẹ của H) nộp số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0000311 ngày 03/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang để bồi thường cho các bị hại trong vụ án.
Trước khi mở phiên tòa: Bà Cù Thị B và bà Nguyễn Thị M đã bồi thường thêm cho bị hại Trần Minh Đ số tiền 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng). Bồi thường thêm cho bị hại Phạm Minh Đ1 số tiền 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Các bị hại Trần Minh Đ và bị hại Phạm Minh Đ1 nhất trí số tiền các bị cáo và gia đình đã bồi thường và không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự gì thêm nên Hội đồng xét xử cần tuyên trả số tiền đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang trên cho các bị hại.
Bà Trần Lệ T2 nhất trí, không đề nghị gì về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa bà Cù Thị B và bà Nguyễn Thị M không yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền bồi thường cho các bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Đối với 02 người đàn ông đã mua xe mô tô do T, H trộm cắp mà có, do không xác định được tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra, xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Điểm T và Lâm Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Điểm T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/4/2024.
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lâm Quốc H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại anh Trần Minh Đ được nhận số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0000312 ngày 03/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang.
Bị hại Phạm Minh Đ1 được nhận số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0000311 ngày 03/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Bị cáo Lâm Quốc H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Điểm T được miễn Toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo Nguyễn Điểm T và Lâm Quốc H; người đại diện theo pháp luật bà M; bà B; người bào chữa cho các bị cáo ông Phạm Thế N; Các bị hại; nguời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trần Thế Dũng Lý Thúy Hà |
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Lan |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Tuyên Quang;
- - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- - Công an tỉnh Tuyên Quang;
- - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
- - VKSND TP. Tuyên Quang;
- - Công an TP. Tuyên Quang;
- - Chi cục THADS TP. Tuyên Quang;
- - Bị cáo; người đại diện cho bị cáo; bị hại; người bào chữa;
- - Hồ sơ vụ án hình sự;
- - Lưu HS.
Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 70/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: XX
