Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 70/2024/HS-ST

Ngày: 18/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quang Dũng

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Tuyết

Ông Lâm Văn Vô

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Phan Văn Dần – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Quyền - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại Đ: Phòng xét xử trực tuyến - Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ: F N, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh và Đ cầu thành phần: Phòng xét xử trực tuyến-Nhà tạm giữ Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ: E D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2024/HSST ngày 03/5/2024, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Lương Chí T, sinh ngày 17 tháng 9 năm 1980 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Thường trú: 3 H, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 3 H, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 4/12; Dân tộc: Hoa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lương Huê B và bà: Đặng Mỹ H; Chưa có vợ con; Tiền án: không, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 07/12/2004 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, bị cáo kháng cáo. Ngày 23/3/2005, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm tuyên y án sơ thẩm. Bị cáo chấp hành án đến ngày 14/01/2009 được đặc xá. Bị cáo đã nộp án phí vào ngày 14/7/2014. Ngày 28/6/2011 bị Tòa án nhân dân Quận 11, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/02/2014 và đã thi hành án xong án phí hình sự sơ thẩm vào ngày 14/12/2011. Ngày 28/5/2019 bị Tòa án nhân dân Quận 6 xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/8/2021 và đã thi hành án xong án phí hình sự sơ thẩm vào tháng 8 năm 2021.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/8/2023 (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 25/8/2023, Công an P, Quận E kết hợp Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an Q1 kiểm tra hành chính nhà số C H, Phường A, Quận E của Lương Chí T, lúc này T đang ở gác lửng cùng Nguyễn Thị Thu V là bạn của T. Qua kiểm tra, phát hiện và thu giữ trên đầu tủ nhựa đựng quần áo của T có 02 gói giấy bạc, trong đó 01 gói giấy bạc bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, gói giấy bạc còn lại bên trong chứa 02 gói nylon chứa tinh thể không màu đồng thời phát hiện trên sàn gỗ sau tủ nhựa đựng quần áo trên có 01 gói nylon bên trong có 04 gói nylon chứa tinh thể không màu. T khai toàn bộ các gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy loại “đá” của T cất giữ để sử dụng cá nhân và trong tủ gỗ có 01 chai nhựa có nắp đậy màu đỏ là bộ dụng cụ dùng sử dụng ma túy đá. Tổ Công tác đưa T, V cùng toàn bộ vật chứng nêu trên về trụ sở Công an P, Quận E lập biên bản phạm tội quả tang sau đó chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Quận E để điều tra theo thẩm quyền.

Vật chứng: 03 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu (gói 1) và 04 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu (gói 2); 01 điện thoại di động, hiệu N, số Seri 1354874081919961; 02 miếng giấy bạc; 01 chai nhựa.

Tại bản Kết luận giám định số 9426/KL-KTHS ngày 29/8/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể không màu trong 03 gói nylon (ký hiệu m1) cần giám định, bên ngoài có chữ ký ghi tên Lương Chí T và hình dấu Công an P, Quận E đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,4628g (không phẩy bốn sáu hai tám gam), loại Methamphetamine; Tinh thể không màu trong 04 gói nylon (ký hiệu m2) cần giám định, bên ngoài có chữ ký ghi tên Lương Chí T và hình dấu Công an P, Quận E đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,8868g (không phẩy tám tám sáu tám gam), loại Methamphetamine).

Bản cáo trạng số: 53/CT-VKS-Q5 ngày 02/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lương Chí T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Lương Chí T đã có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy với khối lượng là 1,3496 gram, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng và bị bắt quả tang. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lương Chí T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lương Chí T với mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; Về vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lương Chí T không có ý kiến tự bào chữa, tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa công khai, bị cáo Lương Chí T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Lương Chí T đã có hành vi cất giữ trái phép tổng cộng 1,3496 gram, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Do đó, hành vi của bị cáo là đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật mà Nhà nước nghiêm cấm, nhưng bị cáo bất chấp pháp luật tàng trữ chất ma túy nhằm mục đích sử dụng để thỏa mãn cơn nghiện.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây nghiện và độc hại, gây mất trật tự xã hội ở địa phương, còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nhằm mục đích giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định, để bị cáo có thể cải tạo thành người có ích cho xã hội, đồng thời đủ sức răn đe đối với những người khác có hành vi tương tự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” không hưởng lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo T, hiện chưa rõ lai lịch, khi nào bắt được xử lý sau.

[8] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Lương Chí T là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.

[9] Về xử lý vật chứng:

Tinh thể không màu trong 03 gói nylon (ký hiệu m1), bên ngoài có chữ ký ghi tên Lương Chí T và hình dấu Công an P, Quận E đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,4628g (không phẩy bốn sáu hai tám gam), loại Methamphetamine; Tinh thể không màu trong 04 gói nylon (ký hiệu m2), bên ngoài có chữ ký ghi tên Lương Chí T và hình dấu Công an P, Quận E đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,8868g (không phẩy tám tám sáu tám gam), loại Methamphetamine). Sau giám định còn lại được gói trong 02 (hai) gói niêm phong số 1885/2023 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Phan Tấn Q và cán bộ điều tra Nguyễn Thành T1. Xét đây là vật phạm pháp, Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

01 điện thoại di động, hiệu N, số Seri 1354874081919961, là tài sản cá nhân của bị cáo T dùng liên lạc cá nhân, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

02 miếng giấy bạc, 01 chai nhựa là dụng cụ để sử dụng ma tuý và hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lương Chí T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/8/2023.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) gói niêm phong số 1885/2023 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Phan Tấn Q và cán bộ điều tra Nguyễn Thành T1 là số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định.

Tịch thu tiêu hủy: 02 miếng giấy bạc, 01 chai nhựa.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động, hiệu Nokia, số Seri 1354874081919961.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 (được sửa, đổi bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Bị cáo chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TpHCM;
  • - Sở Tư pháp TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5;
  • - Bộ phận THA HS Tòa án Quận 5;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Quang Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 70/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lương Chí Thành phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về chất cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger