|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 70/2024/HS-ST Ngày: 17- 9- 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ông Ngọc Lễ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Vũ Hùng Hạnh;
- - Ông Trần Hà Bắc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngoan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, Tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:
1.Họ và tên: Phạm Văn L; sinh năm 1983, tại huyện G, tỉnh Nam Định; chỗ ở hiện nay: Xóm H, xã G (nay là thị trấn G), huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc H và Cao Thị H1; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/5/2024 đến nay; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N “có mặt”.
2.Họ và tên: Mai Xuân T; sinh năm 1994, tại huyện G, tỉnh Nam Định; chỗ ở hiện nay: Xóm G, xã G (nay là thị trấn G), huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Xuân T1 và Vũ Thị T2; vợ: Đoàn Thị Thu H2; bị cáo có 2 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/5/2024 đến nay; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 20' ngày 09-5-2024, Mai Xuân T gọi điện thoại cho Phạm Văn L, T hỏi L bán cho T 02 gói heroine, L đồng ý báo giá 200.000 đồng/gói heroine và hẹn T đến khu vực cầu ông L1 thuộc xóm B, xã G để giao dịch. Sau đó, T điều khiển xe mô tô BKS: 18G1-38186 đến điểm hẹn. Gặp L, T đưa cho L 380.000 đồng và bảo L cho T nợ 20.000 đồng, L đồng ý nhận tiền rồi đưa lại cho T 01 gói heroine được gói bên ngoài bằng giấy màu trắng loại kẻ ô ly và bảo T còn 01 gói heroine Lượng để trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng tại khu vực chân cổng nhà Lượng, khi nào T qua mà lấy. Sau đó L đi về, T cầm gói heroine vừa mua được rồi điều khiển xe đến khu vực nghĩa trang thuộc xóm A, xã G thì dừng lại, T chia gói ma túy mua của L thành 03 phần, 01 phần T gói lại bằng giấy của gói heroine Lượng bán cho T, 01 phần T bỏ vào trong đoạn ống nhựa màu đen và hàn kín lại, còn 01 phần T gói bằng giấy bạc màu vàng thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N phối hợp với Đội CSĐTTP về ma túy – kinh tế Công an huyện G và Công an xã G yêu cầu kiểm tra hành chính đối với T. Quá trình kiểm tra, tổ công tác đã thu giữ gồm 01 gói được gói bên ngoài bằng giấy màu trắng loại giấy kẻ ô ly, 01 đoạn ống nhựa màu đen được hàn kín 2 đầu và 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng, T khai nhận đó là 02 gói và 01 đoạn ống nhựa chứa heroine của T cất giấu với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã mời người chứng kiến đưa đối tượng Mai Xuân T cùng vật chứng về Công an xã G tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vật chứng thu giữ là 02 gói và 01 đoạn ống nhựa chứa chất bột dạng cục màu trắng, được niêm phong trong phong bì thư kí hiệu A. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của Mai Xuân T 01 điện thoại di động SAMSUNG, 01 xe mô tô BKS: 18G1-38186.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Mai Xuân T, cơ quan CSĐT Công an tỉnh N thu giữ trên mặt kệ bếp nhà T 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng có chứa 02 đoạn ống hút nhựa màu đen bên trong đều bám dính chất bột màu trắng, được niêm phong ký hiệu A2. T khai nhận: Ngày 07-5-2024, T đi đến khu vực chợ xã G, huyện G mua của một người đàn ông T không biết tên, tuổi, địa chỉ 02 đoạn ống hút nhựa màu đen chứa heroine với giá 400.000 đồng. Sau đó T mang về nhà sử dụng hết, trong đó một đoạn ống nhựa T cắt đôi thành hai ống và để trên mặt kệ bếp nhà T, còn 01 đoạn ống nhựa T để đựng một phần heroine mua được của Phạm Văn L ngày 09-5-2024. Ngoài ra còn thu giữ tại nhà Mai Xuân T 01 chiếc dao lam màu ghi.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Văn L, cơ quan CSĐT Công an tỉnh N thu giữ tại chân cột cổng bên trái theo hướng từ nhà ra ngoài nhà Phạm Văn L 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 01 gói giấy kẻ ô ly màu trắng, bên trong gói giấy chứa chất bột dạng cục màu trắng (được niêm phong, ký hiệu A1), L khai nhận đó là gói heroin L bán cho T, L cất giấu ở chân cột nhà L để T đến lấy. Thu giữ trên giường trong phòng ngủ của Phạm Văn L 01 chiếc điện thoại di động. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Văn L để điều tra xử lý. Quá trình giữ khẩn cấp, CQĐT còn thu giữ của Phạm Văn L 01 căn cước công dân mang tên Phạm Văn L, số tiền 590.000 đồng, L khai nhận trong đó có 380.000 đồng là tiền L đã bán 02 gói ma túy cho Mai Xuân T và 01 xe mô tô BKS: 18G1-422.93.
Tại Bản kết Luận giám định số: 884/KL/GĐKTHS ngày 13-5-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu bột dạng cục màu trắng và mẫu bột dạng cục màu trắng được niêm phong ký hiệu A, A1 và A2 gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy heroine (heroin). Tổng khối lượng mẫu A: 0,242 gam; khối lượng mẫu A1: 0,186 gam; tổng khối lượng mẫu A2 không xác định được khối lượng mẫu” .
Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, Mai Xuân T và Phạm Văn L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số 68/CT-VKS ngày 14-8-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Phạm Văn L về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ Luật Hình sự; truy tố bị cáo Mai Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố Phạm Văn L và Mai Xuân T đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Mai Xuân T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Phạm Văn L từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm tù. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Mai Xuân T từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu 02 chiếc điện thoại di động là phương tiện dùng vào việc liên lạc mua bán ma tuý và số tiền 380.000 đồng mua bán trái phép chất ma tuý sung ngân sách Nhà nước. Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã hoàn trả sau giám định và 01 chiếc dao lam, 02 vỏ bao thuốc lá. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, để tuyên án phí đối với các bị cáo.
Bị cáo Phạm Văn L và Mai Xuân T thừa nhận hành vi phạm tội đã nêu, không bào chữa, tranh luận gì, ăn năn, hối cải, lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tù, và xin miễn hình phạt bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, và kết luận giám định về số ma túy thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 09-5-2024 Phạm Văn L đã có hành vi bán trái phép cho Mai Xuân T 02 gói heroin có khối lượng là 0,428g lấy 380.000 đồng; Mai Xuân T đã cất giữ trái phép 0,428 gam heroine để sử dụng cho bản thân. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do đó hành vi của bị cáo Phạm Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma tuý", hành vi của bị cáo Mai Xuân T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thuỷ đã truy tố bị cáo Phạm Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 bộ luật hình sự và truy tố bị cáo Mai Xuân T về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.
- [3]Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo là người có nhân thân tốt, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định của Bộ luật hình sự; các bị cáo thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- [4] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 và khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, buộc các bị cáo phải tập trung cải tạo một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.
- [5] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có tài sản giá trị, bản thân nghiện ma túy, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- [6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu số ma túy đã thu giữ trong vụ án là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và 02 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và 01 dao lam màu ghi cho tiêu hủy. Tịch thu số tiền 380.000 đồng mua bán ma tuý, 01 chiếc điện thoại di động Sam sung, 01 chiếc điện thoại di động Iphone là phương tiện dùng liên lạc mua bán ma tuý để sung ngân sách Nhà nước.
- [7] Về nguồn gốc số heroine: Quá trình điều tra, không xác định được người đã bán heroin cho L và T nên không có căn cứ để xử lý.
- [8] Về án phí, quyền kháng cáo: Các bị cáo Phạm Văn L và Mai Xuân T bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; các bị cáo Phạm Văn L và Mai Xuân T có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố Phạm Văn L phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” xử phạt: Phạm Văn L 03 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09-5-2024; căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Tuyên bố Mai Xuân T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chấp ma túy” xử phạt Mai Xuân T 02 năm 03 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09-05-2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 380.000 đồng (Ba trăm tám mươi nghìn đồng), 01 chiếc điện thoại di động Sam sung, 01 chiếc điện thoại di động Iphone; tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định, 01 dao lam, 02 vỏ bao thuốc lá T3 (được ghi chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng số: 81/2024 ngày 16-8-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Phạm Văn L và Mai Xuân T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về kháng cáo: Căn cứ các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Phạm Văn L và Mai Xuân T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ông Ngọc Lễ |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Vũ Hùng Hạnh – Trần Hà Bắc |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ông Ngọc Lễ |
Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 70/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt 3 năm tù
