Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 70 / 2024 / HS-ST

Ngày 17 tháng 7 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lư Thị Châu Ngọc.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Trang và ông Nguyễn Thanh Sơn.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Trí - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm - Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc và điểm cầu thành phần - Nhà tạm giữ, Công an thành phố C, Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Văn N (Lê Văn T), sinh năm 1985, nơi sinh: huyện C, thành phố Cần Thơ;

nơi ĐKTT trú: ấp T, thị trấn C, huyện C, thành phố Cần Thơ, chỗ ở hiện nay: tổ B, khóm V, phường C, thành phố C; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hữu T1 (chết) và bà Hứa Thị C; vợ Ngô Thị Mỹ P, sinh năm 1973, có 01 con sinh năm 2008.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 09/3/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: ông Cao Văn H, sinh năm 1978; nơi cư trú: tổ B, khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người có quyền lợi, quyền lợi nghĩa vụ liên quan: ông Lê Hữu P1, sinh năm 2002; nơi cư trú: số nhà A, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

Người làm chứng:

  • - Ông Lê Trung T2, sinh năm 1982 (vắng mặt).
  • - Bà Hứa Thị C, sinh năm 1953 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền mua ma túy sử dụng, khoảng 14 giờ 30 phút ngày 08/3/2024, Lê Văn N điều khiển xe mô tô mang biển số 68T6 – 5990 (mượn của Lê Hữu P1) đi tìm tài sản để lấy trộm. Trên đường đi do xe của N điều khiển bị tắt máy nên N để xe dưới chân cầu C thuộc khóm B, phường C, thành phố C, rồi đi bộ đến đường B, tổ B, khóm G, phường C, phát hiện xe mô tô biển số 67H2 - 1433 của Cao Văn H, đang đậu sát mép ruộng, không người trông giữ nên N đi đến dùng hai tay gặt cổ xe phá khóa cổ, xong N nổ máy xe điều khiển đến khu vực cầu C giấu xe trong bụi cây rồi N đi đến lấy xe mô tô biển số 68T6 - 5990 của N điều khiển tìm nơi tiêu thụ xe mô tô vừa trộm được. Ngoan đến khu vực tổ B, khóm C, phường C, thành phố C gặp Lê Trung T2 thỏa thuận bán xe với giá 550.000 đồng. Sau đó, N đem xe mô tô biển số 67H2 - 1433 đến bán, T2 phát hiện xe mô tô trên là của Cao Văn H bị mất trộm nên báo cho H biết. Bị phát hiện, N đến Công an phường C khai nhận về hành vi lấy trộm xe mô tô của anh H.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô, nhãn hiệu Ware, màu sơn tím, biển số 67H2 - 1433 (đã trao trả cho bị hại Cao Văn H); 01 xe mô tô kiểu dáng Wave RS, màu sơn đen, biển số 68T6 - 5990 (đã trao trả cho Lê Hữu P1).

Kết luận định giá tài sản số 405/KL-ĐG ngày 11/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, ghi nhận: 01 xe mô tô biển số 67H2 - 1433, nhãn hiệu WARE, trị giá 2.500.000 đồng.

Ngày 20/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Lê Văn N về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173, Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 (Bộ luật Hình sự).

Cáo trạng số 50/CT-VKSCĐ-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo Lê Văn N về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173, Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng. Lời nói sau cùng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc phát biểu luận tội: Khẳng định Cáo trạng truy tố bị cáo Lê Văn N đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, giữ nguyên Cáo trạng.

Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn N từ 09 tháng đến 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”; không áp dụng hình phạt bổ sung đối bị cáo.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Vật chứng đã trả cho ông P1 và ông H; bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung:

[1] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 08/3/2024, bị cáo N phát hiện xe mô tô biển số 67H2 - 1433 của Cao Văn H, không người trông giữ, nên đã lén lút bẻ khóa lấy trộm tài sản trên, giá trị tài sản là 2.500.000 đồng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác nên đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù 06 tháng đến 03 năm tù.

Tài sản của công dân do công sức lao động gian khó của họ tạo ra, do đó quyền sở hữu hợp pháp về tài sản được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều bị xử lý nghiêm minh. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sở hữu của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, nên cần có mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong khoảng thời gian nhất định để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: xét bị cáo Lê Văn N có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; không tiền án, tiền sự, thuộc thành phần nhân dân lao động, học lực thấp, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, đầu thú; do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô, nhãn hiệu Ware, màu sơn tím, biển số 67H2 – 1433, đã trao trả cho bị hại Cao Văn H; 01 xe mô tô kiểu dáng Wave RS, màu sơn đen, biển số 68T6 – 5990, đã trao trả cho Lê Hữu P1, nên không đề cập xử lý.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường nên không đề cập xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Lê Văn N 01 (một) năm tù;

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 09/3/2024 (ngày chín, tháng ba, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).

Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Lê Văn N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh AG (1)
  • - Viện KSND tỉnh AG (1);
  • - Viện KSND thành phố (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Nhà Tạm giữ (2);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Chi cục THADS thành phố (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1);
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có QL-NV liên quan
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lư Thị Châu Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 70/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger