Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIỂU CẦN

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 70/2024/DS-ST

Ngày: 17-7-2024

“Về tranh chấp hợp đồng góp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Ân.

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung.

Ông Thạch Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoàng Danh, kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2023/TLST-DS, ngày 11 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

1/ Chị Thạch Thị C, sinh năm 1957 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp Ô, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

2/ Chị Thạch Thị Ngọc E, sinh năm 1983 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp Ô, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn là: Chị Kim Thị Đa N, sinh năm 1991; địa chỉ: Ấp Ô, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh, đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền đề ngày 06/6/2024, có mặt);

- Bị đơn: Ông Thạch S, sinh năm 1970 và bà Kim Thị N1, sinh năm 1972(Vắng mặt không lý do);

Cùng địa chỉ: Ấp Ô, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Kim Thị Đa N là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày có nội dung:

Nguyên đơn bà Thạch Thị C có tham gia 01 phần hụi do bà Kim Thị N1 và ông Thạch S làm đầu thảo, loại hụi 1.000.000 đồng, khui lần đầu ngày 01/9/2019, trừ hoa hồng đầu thảo là 400.000 đồng, có 16 phần hụi, 01 tháng khui hụi 01 lần (dây hụi số 10) nguyên đơn đã đóng hụi sống được 09 lần với tổng số tiền là 3.820.000 đồng. Trong dây hụi bà N1 và ông S ghi bà tên “Cô C”. Hụi khui được 09 kỳ thì bà N1 và ông S không khui hụi tiếp và cho rằng vỡ hụi.

Nguyên đơn chị Thạch Thị Ngọc E có tham gia 02 phần hụi trong hai dây hụi do bà Kim Thị N1 và ông Thạch S làm đầu thảo, loại hụi 2.000.000 đồng, khui lần đầu ngày 01/9/2019, trừ hoa hồng đầu thảo là 800.000 đồng, có 16 phần hụi, 01 tháng khui hụi 01 lần (dây hụi số 11 và số 18) nguyên đơn đã đóng hụi sống được 09 lần với tổng số tiền là 15.250.000 đồng nhưng khi làm đơn khởi kiện chị Ngọc E ghi nhầm là 15.050.000 đồng. Trong dây hụi bà N1 và ông S ghi chị tên “K - C1”. Hụi khui được 09 kỳ thì bà N1 và ông S không khui hụi tiếp và cho rằng vỡ hụi. Sau khi vỡ hụi thì bị đơn có trả cho chị Ngọc E số tiền là 4.000.000 đồng.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu bà N1 và ông S trả cho bà C số tiền hụi còn nợ là 3.820.000 đồng và yêu cầu bà N1 và ông S trả cho chị Ngọc E số tiền hụi còn nợ là 11.050.000 đồng. Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn ông Thạch S và bà Kim Thị N1 vắng mặt không có lời trình bày.

Những vấn đề mà các đương sự đã thống nhất: Không có.

Những vấn đề các đương sự không thống nhất:

Bà Thạch Thị C yêu cầu bà N1 và ông S trả số tiền hụi còn nợ là là 3.820.000 đồng.

Chị Thạch Thị Ngọc E yêu cầu bà N1 và ông S trả số tiền hụi còn nợ là là 11.050.000 đồng.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, riêng bị đơn chưa chấp đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự vắng mặt suốt quá trình tố tụng và vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay.

Về nội dung vụ án: Bà N1 và ông S là chủ đầu thảo hụi có hưởng hoa hồng phải trả tiền hụi vốn mà các hụi viên đã đóng nhưng không thực hiện nghĩa vụ của chủ hụi đối với hụi viên là đã vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi đối với hụi viên còn sống, từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà N1 và ông S có nghĩa vụ trả cho bà C số tiền là 3.820.000 đồng; buộc bà N1 và ông S có nghĩa vụ trả cho chị Ngọc E số tiền là 11.050.000 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án: Các nguyên đơn tranh chấp với bị đơn số tiền vốn gốc góp hụi là 14.870.000 đồng (Trong đó số tiền của bà C là 3.820.000 đồng và chị Ngọc E số tiền là 11.050.000 đồng) là có thật mặc dù các bên không có lập thành hợp đồng nhưng bị đơn có lập danh sách hụi và giao cho nguyên đơn giữ, khi thực hiện hợp đồng các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, các bên thực hiện hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Việc các bên thực hiện hợp đồng góp hụi bằng lời nói là phù hợp quy định tại Điều 119 và Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015, do đó hợp đồng có hiệu lực đối với các bên.

[3] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà C yêu cầu bị đơn trả số tiền hụi sống đã đóng là 3.820.000 đồng và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngọc E yêu cầu bị đơn trả số tiền hụi sống đã đóng là 11.050.000 đồng. Nguyên đơn bà C và chị Ngọc E đã chứng minh được bằng danh sách hụi viên, lời khai của người làm chứng thể hiện bà C đã đóng hụi sống với số tiền là 3.820.000 đồng và chị Ngọc E đã đóng hụi sống với số tiền là 15.250.000 đồng, nhưng chị Em chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền là 11.050.00 đồng. Việc nguyên đơn yêu cầu khởi kiện là thực hiện đúng quyền của hụi viên được quy định tại Điều 15 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ quy định “Về họ, hụi, biêu, phường”. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

[4] Đối với bị đơn không hợp tác với Tòa án, không cung cấp bất kỳ chứng cứ gì phản đối với yêu cầu của nguyên đơn, nên bị đơn phải chịu hậu quả của việc không cung cấp chứng cứ cho Tòa án theo quy định tại Điều 91 của của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[5] Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.

[6] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 227, 228, 273 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 117, 119, 429, khoản 2 Điều 468, 471 của Bộ Luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định “Về họ, hụi, biêu, phường”;

Áp dụng Điều 26 và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thạch Thị C và chị Thạch Thị Ngọc E.

    Buộc bà Kim Thị N1 và ông Thạch S có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho bà Thạch Thị C số tiền là 3.820.000 đồng (Ba triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng).

    Buộc bà Kim Thị N1 và ông Thạch S có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho bà Thạch Thị Ngọc E số tiền là 11.050.000 đồng (Mười một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Kim Thị N1 và ông Thạch S phải chịu là 743.500 đồng (14.870.000 đồng x 5%).

    Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Do bà Thạch Thị C được miễn tiền tạm ứng án phí, nên Tòa án không có xử lý tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật.

    Hoàn trả lại cho chị Thạch Thị Ngọc E số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0017068, ngày 11/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần.

  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết công khai để xin xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

    “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - Chi cục THADS huyện Tiểu Cần;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Hoàng Ân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/DS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 70/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Thạch Thị Chông khởi kiện hợp đồng góp hụi bà Kim Thị Nga
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger