Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NDTP HÀ NỘI

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH OAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2024/HSST

Ngày 17/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huy Cương.

Các Hội thẩn nhân dân: Ông Lê Quang Ngọc; Bà Nguyễn Thị Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Anh Bích – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Oai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 17/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2024/TL.HSST ngày 31/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/HSST-QĐ ngày 01/7/2024 đối với bị cáo:

Ngô Thu H, sinh ngày 13/01/1965 tại tỉnh Hòa Bình; Nơi ĐKHKTT: Đội 2, tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện M, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Nguyên Giám đốc Công ty TNHH H5; Trình độ học vấn: 10/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Ngô Đoàn T (đã chết) và bà Dương Thị C (đã chết); Chồng tên là Lê Văn H1; Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1996;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/02/2024 đến nay; Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T; Có mặt.

Bị hại: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1974; Cư trú: Số B ngõ A K, phường Đ, quận H, Hà Nội; Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1991; Cư trú: Số B đường Q, quận H, Hà Nội; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty TNHH H5 (gọi tắt là Công ty H5) có mã số doanh nghiệp: 0500362738, đăng ký lần đầu ngày 08/5/2000; Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn H1 sinh năm 1959; Nơi thường trú: Đội 2, T, thị trấn Đ, huyện M, Hà Nội (Chức vụ: Giám đốc); Địa chỉ trụ sở chính: Cụm công nghiệp Thanh Oai, xã Bích Hoà. huyện Thanh Oai, Hà Nội. Đăng ký thay đổi lần thứ 13 ngày 15/10/2018; Người đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thu H, sinh năm 1965; Nơi thường trú: Đội 2, T, thị trấn Đ, huyện M, Hà Nội (Chức vụ: Giám đốc). Đăng ký thay đổi lần thứ 14 ngày 27/11/2020; Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn H1 - Chức vụ: Giám đốc.

Năm 2003, Công ty H5 được Nhà nước cho thuê 15.000m² đất tại cụm C thuộc xã B, huyện T, Hà Nội (theo Quyết định số 2509-QĐ/UB ngày 02/12/2003 của UBND tỉnh H và Hợp đồng thuê đất số 38-HĐ/TĐ ngày 17/12/2003 giữa Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H với Công ty H5). Thời gian thuê đất là 50 năm kể từ ngày 02/12/2003 đến 02/12/2053. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: W814316 do UBND tỉnh H cấp ngày 08/01/2004.

Sau khi được quyền thuê đất, Công ty H5 tiến hành xây dựng nhà xưởng trên đất để cho các doanh nghiệp khác thuê lại làm cơ sở sản xuất, kinh doanh. Đến năm 2019, do khó khăn về tài chính nên Công ty H5 đã chuyển nhượng lại quyền thuê đất và nhà xưởng trên lô đất 15.000m² cho công ty TNHH T2 (gọi tắt là Công ty T2), có địa chỉ tại số D đường L, phường L, quận Đ, Hà Nội do bà Phạm Thị H2, sinh năm 1976 làm Giám đốc (theo Hợp đồng mua bán tài sản gắn liền với đất thuê được công chứng có hiệu lực ngày 24/6/2019), giá trị chuyển nhượng chưa bao gồm thuế GTGT là 6.000.000.000đ (sáu tỷ đồng).

Ngày 26/7/2019, UBND thành phố H ra Quyết định số 4007/QĐ- UBND về việc thu hồi 15.000m² đất tại cụm C, xã B, huyện T do Công ty H5 quản lý, sử dụng để cho Công ty T2 thuê để tiếp tục sử dụng làm nhà máy sản xuất vải băng dính công nghiệp và sản xuất kinh doanh, sửa chữa cơ khí. Ngày 12/8/2019, Sở tài nguyên và môi trường thành phố H có văn bản số 7491/STNMT-CCQLĐĐ về việc chuyển thông tin địa chính 15.000m2 tại cụm C, xã B, huyện T của Công ty T2. Ngày 23/8/2019, Cục thuế thành phố H có Thông báo số 66539/TP-CT-QLĐ, thông báo về đơn giá thuê đất đối với 15.000m² đất tại cụm C, xã B, huyện T cho Công ty T2.

Như vậy, đến thời điểm tháng 8/2019, việc chuyển nhượng quyền thuê đất và tài sản là nhà xưởng trên đất giữa Công ty H5 với Công ty T2 đã hoàn thành và được các Cơ quan Nhà nước thừa nhận. Tuy nhiên, sau đó Ngô Thu H cùng chồng là Lê Văn H1 - Phó Giám đốc Công ty H5 kéo dài việc bàn giao mặt bằng 15.000m2 đất, không di dời một số thiết bị máy móc, sản phẩm còn lưu trữ trong kho, trong nhà xưởng để bàn giao mặt bằng cho Công ty T2 và không xuất hóa đơn VAT để Công ty T2 làn thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dẫn đến Công ty T2 phải khởi kiện ra Tòa án. Tại Bản án số 03/2021/KDTM-ST ngày 15/12/2021 của TAND huyện Thanh Oai đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T2, buộc Công ty H5 phải xuất hóa đơn VAT cho Công ty T2 theo “Hợp đồng mua bán tài sản gắn liền với đất thuê” ký ngày 24/6/2019 giữa Công ty T2 và Công ty H5.

Khoảng tháng 01/2020, ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1974, trú tại K, phường Đ, quận H, Hà Nội là Giám đốc Công ty cổ phần K (gọi tắt là Công ty K), có địa chỉ trụ sở chính tại số B, ngõ A đường K, phường Đ, quận H, Hà Nội liên hệ với Ngô Thu H hỏi thuê nhà xưởng để sản xuất đồ gồ. Do cần tiền để trả nợ và chi tiêu cá nhân nên Ngô Thu H đã đưa ra thông tin gian dối về việc toàn bộ nhà xưởng trên khu đất 15.000m² tại cụm C vẫn thuộc quyền quản lý của Công ty H5 để ký hợp đồng cho Công ty K thuê 640m² nhà xưởng trong khu đất nói trên, thời hạn thuê từ ngày 19/02/2020 đến 10/6/2023, giá thuê là 38.000đ/m² (Theo Hợp đồng thuê nhà xưởng số 1902.2020 ngày 19/02/2020 giữa bên cho thuê là Công ty H5, người đại diện là Ngô Thu H - Chức vụ: Giám đốc, với bên thuê là Công ty K, người đại diện là ông Nguyễn Văn T1 - Chức vụ: Giám đốc). Ông Nguyễn Văn T1 đã chuyến số tiền 450.000.000₫ là tiền thuê nhà xưởng cho Ngô Thu H (trong đó: Chuyển vào tài khoản ngân hàng V số [...] mang tên Ngô Thu H số tiền 440.000.000đ; đưa tiền mặt trực tiếp cho H số tiền 10.000.000đ). Sau khi nhận được tiền, Ngô Thu H đã sử dụng số tiền trên vào việc chi trả công nợ của Công ty và tiêu xài cá nhân hết. Sau khi thuê nhà xưởng, ông Nguyễn Văn T1 đã tiến hành cải tạo, sửa chữa, lắp đặt máy móc và cho công nhân Công ty K vào nhà xưởng sản xuất. Đến tháng 8/2020 khi Công ty T2 tiến hành quây hàng rào và yêu cầu Công ty H5 bàn giao mặt bằng thì ông T1 mới biết nhà xưởng mà ông T1 thuê của Ngô Thu H đã được chuyển nhượng cho Công ty T2 từ năm 2019. Ngày 30/9/2020, Công ty K (đại diện là ông Nguyễn Văn T1) và Công ty H5 (đại diện là Ngô Thu H) đã lập biên bản thanh lý Hợp đồng thuê nhà xưởng để trả lại mặt bằng cho Công ty T2. Theo đó, Công ty H5 có trách nhiệm bồi thường cho Công ty K tiền thuê đất, tiền bồi thường thiệt hại do đầu tư sửa chữa nhà xưởng, lắp đặt thiết bị máy móc và tiền thiệt hại của 03 hợp đồng kinh tế, tổng số là 988.540.000đ, nhưng đến nay Công ty H5 vẫn chưa thanh toán số tiền trên.

Ngày 16/5/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Quyết định trung cầu giám định chữ ký, chữ viết của Ngô Thu H trong 02 bản hợp đồng thuê nhà xưởng cùng số 1902.2020 được ký kết bởi ông Nguyễn Văn T1 - Giám đốc Công ty K và Ngô Thu H - Giám đốc Công ty H5 (ký hiệu A1, A2); Biên bản thanh lý số 02/2020/BB-HĐ về việc thanh lý hợp đồng thuê nhà xưởng sản xuất đề ngày 30/9/2020 (ký hiệu A3); Biên bản xác nhận di chuyển tài sản đại diện bên cho thuê: Ngô Thu H, đại diện bên thuê: Nguyễn Văn T1 đề ngày 05/10/2020 (ký hiệu A4); Thông báo số 01/2020/TB-HĐ ngày 29/9/2020 của Công ty H5 (ký hiệu A5) và Hợp đồng mua bán tài sản gắn liền với đất thuê, số Công chứng 03325.19 ngày 24/6/2019 tại Văn Phòng C1, được ký kết bởi bà Phạm Thị H2 - Giám đốc Công ty T2 (bên mua) và Ngô Thu H - Giám đốc Công ty H5 (bên bán) (ký hiệu A6). Với mẫu chữ ký, chữ viết của Ngô Thu H tại biên bản ghi lời khai ngày 05/4/2023 (ký hiệu M) và biên bản làm việc về việc thu thập chữ ký của Ngô Thu H ngày 05/4/2023 (ký hiệu M2).

Tại Kết luận giám định số 4131/KL-KTHS ngày 27/6/2023 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận:

“Chữ ký đứng tên Ngô Thu H trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A3; Chữ ký, chữ viết dòng họ tên Ngô Thu H dưới chữ ký trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ A4 đến A6 với chữ ký, chữ viết đứng tên Ngô Thu H trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 là chữ do cùng một người ký và viết ra”.

Kết quả xác minh số tài khoản 106000436702 tại ngân hàng V của Ngô Thu H:

  • + Ngày 19/02/2020, ông Nguyễn Văn T1 chuyển khoản số tiền 200.000.000đ vào tài khoản 106000436702, nội dung chuyển khoản: Thanh toán tiền thuê nhà xưởng theo hợp đồng số 19022020/HDTX-KHA, ký ngày 19/2/2020.
  • + Ngày 06/3/2020, ông Nguyễn Văn T1 chuyển khoản số tiền 100.000.000đ vào tài khoản 106000436702, nội dung chuyển khoản: Thanh toán tiền thuê nhà xưởng theo hợp đồng số 19022020/HDTX-KHA, ký ngày 19/2/2020.
  • + Ngày 26/6/2020, ông Nguyễn Văn T1 chuyển khoản số tiền 140.000.000đ vào tài khoản 106000436702, nội dung chuyển khoản: Thanh toán tiền thuê nhà xưởng theo hợp đồng số 19022020/HDTX-KHA, ký ngày 19/2/2020.

Quá trình điều tra, Ngô Thu H bỏ trốn, ngày 26/01/2024 Cơ quan CSĐT Công an thành phố H ra Quyết định truy nã. Ngày 28/02/2024, Ngô Thu H đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện T đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đối với Lê Văn H1, sinh năm 1959, nơi thường trú: Đội 2, T, thị trấn Đ, huyện M, Hà Nội (là chồng của Ngô Thu H, đồng thời là Phó Giám đốc Công ty H5 tại thời điểm Ngô Thu H thực hiện hành vi phạm tội). Kết quả điều tra xác định Lê Văn H1 không liên quan đến hành vi phạm tội của Ngô Thu H nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Quá trình điều tra, bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1959 ở phường P, quận H, Hà Nội (là Giám đốc Công ty TNHH T3 có địa chỉ tại phường P, quận H, Hà Nội) tố cáo Ngô Thu H và Lê Văn H1 có hành vi lừa đảo chiếm đoạt của bà số tiền 3.032.400.000đ thông qua việc cho thuê đất vào năm 2011. Kết quả điều tra đã xác định được tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị H4 với Ngô Thu H và Lê Văn H1 là tranh chấp dân sự, đã được giải quyết bằng Bản án dân sự số 25/2023/DSST ngày 29/8/2023 của Tòa án ND huyện T nên không xem xét giải quyết.

Về dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn T1 yêu cầu Ngô Thu H phải bồi thường 988.540.000đ (bao gồm tiền thuê đất đã trả cho Ngô Thu H, thiệt hại do sửa chữa nhà xưởng, lắp đặt thiết bị, máy móc và thiệt hại trong 03 hợp đồng kinh tế mà Công ty K đã ký kết với đối tác theo Biên bản thanh lý hợp đồng ngày 30/9/2020). Ngô Thu H đồng ý toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn Văn T1 nhưng đến nay chưa bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 59/CT-VKS ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai đã truy tố Ngô Thu H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

  • - Bị cáo Ngô Thu H không có ý kiến gì về bản cáo trạng; Khai báo thành khẩn hành vi phạm tội như tại Cơ quan điều tra; Ăn năn hối cải và xin giảm hình phạt. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo xin được trả nốt số tiền chiếm đoạt là 250.000.000đ và tự nguyện trả 538.540.000₫ là số tiền anh T1 bị thiệt hại về sửa chữa nhà xưởng, lắp đặt thiết bị, máy móc và thiệt hại 3 hợp đồng kinh tế Công ty K kí với các đối tác cho anh T1.
  • - Bị hại anh Nguyễn Văn T1 có quan điểm:
    • . Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị giảm hình phạt cho Ngô Thu H.
    • . Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa đã nhận từ gia đình bị cáo 200.000.000đ tiền khắc phục hậu quả nên yêu cầu bị cáo trả nốt số tiền chiếm đoạt là 250.000.000đ. Ngoài ra, yêu cầu bị cáo trả tiền bị thiệt hại sửa chữa nhà xưởng, lắp đặt thiết bị, máy móc và thiệt hại 3 hợp đồng kinh tế Công ty K đã kí với các đối tác là 538.540.000₫.
    • . Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Tuấn A trình bày tự nguyện trả thay bị cáo tiền chiếm đoạt cho anh Nguyễn Văn T1 200.000.000đ. Số tiền này không yêu cầu bị cáo trả lại.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố Ngô Thu H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị:
    • . Xử phạt bị cáo từ 05 đến 06 năm tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung.
    • . Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo trả nốt tiền chiếm đoạt cho bị hại là 250.000.000đ; Ghi nhận thỏa thuận bị cáo trả cho bị hại 538.540.000đ tiền thiệt hại sửa chữa nhà xưởng, lắp đặt thiết bị, máy móc và thiệt hại 3 hợp đồng kinh tế Công ty K đã kí với các đối tác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử cơ bản đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Tội danh và hình phạt:

Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận:

Năm 2000, Công ty TNHH H5 được thành lập, năm 2018 công ty thay đổi đăng kí kinh doanh, theo đó người đại diện theo pháp luật là Ngô Thu H – Giám đốc công ty. Quá trình hoạt động kinh doanh, năm 2003 Công ty H5 được Nhà nước cho thuê 15.000m2 đất tại cụm C thuộc xã B, T, Hà Nội, sau đó Công ty H5 đã xây dựng nhà xưởng trên diện tích đất được thuê để cho các doanh nghiệp khác thuê lại làm nhà xưởng. Đến năm 2019, Công ty H5 đã chuyển nhượng toàn bộ quyền thuê đất, nhà xưởng trên đất cho Công ty TNHH T2, việc chuyển nhượng giữa hai công ty đã được các cơ quan Nhà nước công nhận. Năm 2020 anh Nguyễn Văn T1 là giám đốc Công ty cổ phần K có nhu cầu thuê nhà xưởng để sản xuất đồ gỗ nên hỏi H về việc thuê nhà xưởng. Do cần tiền trả nợ và chi tiêu cá nhân, Ngô Thu H lấy danh nghĩa là giám đốc Công ty H5 vẫn nói với anh T1 diện tích đất, nhà xưởng tại cụm C nêu trên thuộc sự quản lý hợp pháp của Công ty H5 và đồng ý cho anh T1 thuê 450m2 nhà xưởng trong thời hạn 3 năm với giá 450.000.000đ.

Do tin lời H nói nên anh T1 đồng ý thuê và chuyển toàn bộ số tiền 450.000.000đ cho H, sau đó tiến hành sửa chữa, lắp đặt thiết bị, ký hợp đồng với các đối tác để sản xuất đồ gỗ thì bị Công ty T2 phát hiện không cho hoạt động. Về phía H sau khi nhận được tiền từ anh T1 đã sử dụng chi tiêu cá nhân, không trả lại được tiền cho anh T1.

Nhận thấy Ngô Thu H cố ý dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt số tiền 450.000.000₫ của anh Nguyễn Văn T1. Tội phạm hoàn thành kể từ khi H nhận tiền của anh T1.

Với hành vi phạm tội nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai đã truy tố Ngô Thu H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội danh và hình phạt quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ nên cần cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và răn đe phòng ngừa chung.

Nhân thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự;

Khi lượng hình thấy hậu quả vụ án đã được khắc phục một phần; Tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi phạm tội đã đầu thú; Bị hại xin giảm hình phạt nên giảm một phần hình phạt, cho bị cáo hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

[3] Trách nhiệm dân sự:

Hội đồng xét xử xác định bị cáo chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn T1 số tiền 450.000.000đ nên buộc bị cáo phải trả lại anh T1 số tiền này. Tại phiên tòa, gia đình bị cáo đã trả được cho anh T1 200.000.000đ, do vậy bị cáo còn phải trả anh T1 số tiền 250.000.000đ.

- Ngoài ra tại phiên tòa, bị cáo và anh T1 còn tự nguyện thỏa thuận được về việc bị cáo trả cho anh T1 số tiền bị thiệt hại do đầu tư nhà xưởng, lắp đặt thiết bị máy móc và thiệt hại của 03 hợp đồng kinh tế là 538.540.000đ. Do vậy, ghi nhận thỏa thuận này giữa bị cáo và anh T1.

- Anh Nguyễn Tuấn A không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã khắc phục hậu quả vụ án là 200.000.000đ, do vậy không xét.

[4] Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Ngô Thu H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Ngô Thu Hiền 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/02/2024.

  3. Trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự.
    • - Buộc Ngô Thu H phải trả lại số tiền đã chiếm đoạt cho anh Nguyễn Văn T1 là 450.000.000đ (bốn trăm năm mươi triệu đồng). Gia đình H đã trả được cho anh T1 số tiền là 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng), do vậy Ngô Thu H còn phải trả cho anh Nguyễn Văn T1 số tiền là 250.000.000đ (hai trăm năm mươi triệu đồng).
    • - Ghi nhận thỏa thuận giữa Ngô Thu H và anh Nguyễn Văn T1 về việc: Ngô Thu H trả cho anh Nguyễn Văn T1 số tiền bị thiệt hại do đầu tư nhà xưởng, lắp đặt thiết bị máy móc và thiệt hại của 03 hợp đồng kinh tế là 538.540.000₫ (năm trăm ba mươi tám triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng).
    • - Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  4. Án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:
    • Bị cáo Ngô Thu H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; 34.020.000đ (ba mươi tư triệu không trăm hai mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
    • Bị hại anh Nguyễn Văn T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
    • Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Tuấn A có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án NDTP Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát ND huyện Thanh Oai;
  • - Công an huyện Thanh Oai;
  • - Chi cục THA DS huyện Thanh Oai;
  • - Bị cáo, bị hại, người liên quan;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Thanh Oai;
  • - Lưu hồ sơ và văn phòng.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phan Huy Cương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HSST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 70/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NTH-lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger