|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 70/2024/HS-ST Ngày: 17-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Đào
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Thanh Tâm
2. Ông Nguyễn Trọng Vinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tiến Danh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Dương, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 72/2024/TLST-HS ngày 17-4-2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QĐXXST-HS ngày 03/5/2024, đối với:
Bị cáo: Lương Quang A (tên gọi khác: Không có), sinh năm 2003 tại Đồng Nai; nơi cư trú: khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Công giáo; Con ông Trần Văn H, sinh năm 1970 và con bà Lương Thị M, sinh năm 1972 (đã chết); vợ con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ 22/12/2023 đến nay. Có mặt.
- Người làm chứng: Anh Hồ Nhật L, sinh năm 2001. Nơi cư trú: E Đ, khu phố A, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lương Quang A là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy từ tháng 11/2023 cho đến nay, nguồn ma túy mà A sử dụng chủ yếu mua của 01 đối tượng tên T (không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể), ở khu vực chợ H1, thuộc xã H, thành phố L. Để có ma túy sử dụng, khoảng 11 giờ ngày 22/12/2023, A thuê taxi đi từ nhà ở hẻm A, đường I, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai đến chợ H1 tìm T và mua 01 bịch ma túy đá, với giá 500.000 đồng để sử dụng.
Sau khi mua được ma túy, A thuê xe ôm chở về nhà và gọi điện thoại cho Hồ Nhật L, sinh năm 2001, ngụ tại khu phố A, phường X, thành phố L đến và nhờ L chở ra bến xe buýt để đi huyện X. Đến khoảng 11 giờ 55 phút cùng ngày, sau khi xếp hành lý xong, A đang ngồi trên chiếc xe mô tô biển số 60B2-580.40 trước cổng nhà của A để chờ L đến quán T1 đồ cá nhân thì Công an phường X, thành phố L đi tuần tra phát hiện trong tay phải của A đang cầm 01 bịch ma túy đá, chuẩn bị cất giấu vào túi áo nên đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong toàn bộ tang vật theo quy định của pháp luật.
Tại Kết luận giám định số 2585/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,5857 gam, loại Methamphetamine.
Trong quá trình điều tra, bị cáo A đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ và xử lý:
+ 01 (một) bịch ma túy đá sau giám định được hoàn lại trong 01 phong bì niêm phong số 2858/KL-KTHS của phòng K Công an tỉnh Đ bên trong có 0,5254 gam Methamphetamine (ma túy sau giám định), hiện được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh để phục vụ công tác xét xử.
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A55, màu đen của A, điện thoại này A không dùng để liên lạc, trao đổi việc mua bán ma túy nên đã trả lại cho A và giao cho ông Trần Văn H (bố ruột của A) quản lý.
+ 01 mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu vàng đồng đen, biển số 60B2-580.40 do anh Lê Hoài L1, sinh năm 1980, trú tại khu phố A, phường X, thành phố L đứng tên chủ sở hữu. Anh L2 cho cháu ruột là Hồ Nhật L để làm phương tiện đi lại, chiếc xe này không dùng để cất giấu, vận chuyển ma túy nên đã trả lại cho L.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Bản cáo trạng số 69/CT-VKSLK ngày 17/4/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Lương Quang A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bịch ma túy đá sau giám định được hoàn lại trong 01 phong bì niêm phong số 2858/KL-KTHS của phòng K Công an tỉnh Đ bên trong có 0,5254 gam Methamphetamine (ma túy sau giám định).
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo không tham gia tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng như sau: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa bị cáo cũng không có ý kiến gì. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên đã có lời khai trong quá trình điều tra, xét thấy việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.
[2] Về tội danh và khung hình phạt: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lương Quang A khai nhận toàn bộ hành vi phạm của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định xác định:
Vào khoảng 11 giờ 55 phút ngày 22/12/2023, tại hẻm A, đường I, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai Lương Quang A có hành vi tàng trữ 01 bịch ma túy, có khối lượng 0,5857 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng.
Như vậy, hành vi của bị cáo Lương Quang A phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Hành vi của của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý, sử dụng chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện, người nghiện ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và tinh thần, ma túy còn là nguyên nhân của các tội phạm khác. Vì vậy, Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy, nhằm tạo một môi trường sống, học tập, lao động lành mạnh, không có tệ nạn xã hội. Bị cáo là người đã trưởng thành, có khả năng nhận thức rõ hiểm họa của ma túy và hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ dài mới đủ sức răn đe với bị cáo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
[3] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Do đó, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về vật chứng: 01 (một) bịch ma túy đá sau giám định được hoàn lại trong 01 phong bì niêm phong số 2858/KL-KTHS của phòng K Công an tỉnh Đ bên trong có 0,5254 gam Methamphetamine (ma túy sau giám định). Đây là mẫu vật ma túy còn lại sau giám định, là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A55, màu đen của A, điện thoại này A không dùng để liên lạc, trao đổi việc mua bán ma túy nên đã trả lại cho A và giao cho ông Trần Văn H (bố ruột của A) quản lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
+ 01 mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu vàng đồng đen, biển số số 60B2-580.40 do anh Lê Hoài L1, sinh năm 1980, trú tại khu phố A, phường X, thành phố L đứng tên chủ sở hữu. Anh L2 cho cháu ruột là Hồ Nhật L để làm phương tiện đi lại, chiếc xe này không dùng để cất giấu, vận chuyển ma túy nên đã trả lại cho L là đúng quy định của pháp luật.
[6] Các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông tên T, người đã bán ma túy cho A để sử dụng hiện nay chưa xác định rõ nhân thân, lai lịch cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
[7] Về án phí: Bị cáo Lương Quang A là người bị kết án nên phải nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật.
[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như đề xuất về hình phạt đối với bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm c khoản 1, Điều 249 ; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố bị cáo Lương Quang A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Lương Quang A 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22 tháng 12 năm 2023.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bịch ma túy đá sau giám định được hoàn lại trong 01 phong bì niêm phong số 2858/KL-KTHS của phòng K Công an tỉnh Đ bên trong có 0,5254 gam Methamphetamine (ma túy sau giám định).
(Vật chứng hiện Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Khánh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/4/2024).
3. Về án phí: Buộc bị cáo Lương Quang A phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Đào |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 70/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Quang An phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
