Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 70/2024/HS - ST.

Ngày: 17/5/2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Xuân Trường.

+ Bà Thạch Thị Lan Nhung.

- Thư ký phiên toà:

Bà Đàm Thị Thu Duy - Là thư ký của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa:

Ông Hồ Văn Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 53/2024/TLST - HS ngày 26 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST - HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Bùi Quang T; sinh năm: 1987; tại Lâm Đồng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Quang C và bà Nguyễn Thị L; vợ: Vương Hồng H; bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền sự: không.

    Nhân thân: Tại bản án số 21/2007/HSST ngày 16/5/2007 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt bị cáo Bùi Quang T 09 tháng tù. Về tội: “Trộm cắp tài sản”.

    Tại bản án số 93/2023/HS-ST ngày 18/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt bị cáo Bùi Quang T 09 tháng tù. Về tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.

    Bị cáo tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  2. Nguyễn Duy T1; sinh năm: 1990; tại Lâm Đồng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy T2 và bà Nguyễn Thị H1; vợ Triệu Thị N; bị cáo có 01 người con sinh năm 2018.

    Tiền án, tiền sự: không.

    Nhân thân:

    Ngày 26/4/2021, bị cơ quan Hạt kiểm lâm huyện L, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 10.000.000đ về hành vi vận chuyển lâm sản trái phép.

    Tại bản án số 93/2023/HS-ST ngày 18/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T1 08 tháng tù. Về tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.

    Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

+ Ông Vòng A P, sinh năm 1972.

Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 09/12/2022, Lê Phong N1, sinh năm: 1977, HKTT: Thôn L xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng cùng với Bùi Quang T, sinh năm 1987, HKTT: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng đến nhà của Nguyễn Văn H2, sinh năm: 1980, HKTT: Thôn V, xã H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng chơi và ăn nhậu với nhau. Trong quá trình ăn nhậu, N1, H2 và T bàn bạc với nhau về việc đi vào khu vực tiểu khu B thuộc xã P, huyện L để cưa cây rừng lấy gỗ về chia nhau sử dụng. Sau khi bàn bạc bạc thống nhất với nhau xong thì H2 gọi điện thoại cho Phạm Văn Q, sinh năm: 1987, HKTT: Thôn Đ, xã H, huyện L đi làm giúp cho H2. Còn N1 gọi điện thoại cho Nguyễn Duy T1, sinh năm: 1990, HKTT: Thôn B, xã T, huyện L đi làm giúp cho N1 và N1 thông báo cho T khi nào đi làm thì gọi cho T1 đi làm cùng với T.

Đến khoảng 17 giờ 00 ngày 11/12/2022, T gọi điện cho T1 hỏi có vào cưa gỗ không thì T1 trả lời đang đi vào sắp tới nơi và hẹn gặp nhau tại vườn của T thuộc tiểu khu B. Khi gặp nhau thì T nói T1 điều khiển xe mô tô đi vào tiểu khu B chờ mình còn T điều khiển máy cày hiệu Mitsubishi, mang theo một cưa máy loại cưa cầm tay nhãn hiệu Husqvana 365, một đoạn dây xích, một thước rút loại 10m đi vào sau. Khi đi qua vị trí vườn chanh dây của ông V tại lô d, khoảnh 4, tiểu khu B thuộc xã P, huyện L, T chỉ cho T1 đi vào khu vực rừng cây có cây gỗ Chò Lông sát vườn Chanh dây của ông V1 A B sinh năm: 1972 cách đường khoảng hơn 100m để T1 vào cưa. T1 sử dụng cưa máy của T đi vào và cưa 01 cây gỗ loại Chò Lông thì cây gỗ Chò lông này đổ vào vườn Chanh dây của ông B gây sập vườn Chanh dây của ông B. Hậu quả giàn chanh dây của ông B bị đổ sập hoàn toàn với diện tích 3.170m². Sau khi cưa cây gỗ Chò Lông đổ vào vườn ông B xong thì T và T1 tiếp tục đi cưa và xẻ các cây gỗ Chò Lông khác, sau đó cửa xẻ và mang đi cất giấu.

Tang vật thu giữ gồm: 01 cưa máy nhãn hiệu Husgvana 365 màu đỏ dài 80cm có lưỡi lam và sên cưa dài 39cm. 01 thước rút dài 10m. 01 xe máy cày hiệu Mitsubishi-Mte200.

Bản kết luận số 36/KLĐG ngày 10/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện L kết luận: Diện tích 3.170m² trồng cây chanh dây (mác mác kể cả giàn), trồng từ tháng 6 năm 2022, bị đổ sập hoàn toàn, trường hợp chưa thu hoạch có giá trị tài sản là 268.562.400 đồng (hai trăm sáu mươi tám triệu năm trăm sáu mươi hai nghìn bốn trăm đồng) tại thời điểm định giá ngày 23/12/2023.

Về xử lý vật chứng: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2023/HS - ST ngày 18/8/2023 của Tòa án huyện L tuyên: Tịch thu bán sung công quy nhà nước 01 cưa máy nhãn hiệu Husgvana 365 màu đỏ dài 80cm có lưỡi lam và sên cưa dài 39cm và 01 xe máy cày hiệu Mitsubishi-Mte200. Tịch thu tiêu hủy 01 thước rút dài 10m.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Vòng A B1 đã nhận được 40.000.000 đồng tiền bồi thường và không có yêu cầu gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 59/CT - VKS ngày 08/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử bị can Bùi Quang T, Nguyễn Duy T1 về tội: “Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 180 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, các bị cáo không khiếu nại hay thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Bùi Quang T, Nguyễn Duy T1 về tội: “Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản” đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 180; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T1 được áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51. Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Quang T từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T1 từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án đã được xử lý tại Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2023/HS-ST ngày 18/8/2023 của Tòa án huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên Tòa các bị cáo khai nhận: Vào ngày 09/12/2022 Lê Phong N1, Bùi Quang T đến nhà Nguyễn Văn H2 chơi và ăn nhậu. Trong quá trình ăn nhậu N1, H2, T bàn bạc với nhau đi vào tiểu khu B để cưa cây rừng lấy gỗ. Sau khi bàn bạc thì H2 gọi cho Q, N1 gọi cho T1. Đến khoảng 17 giờ ngày 11/12/2022 T và T1 đi vào tiểu khu B. Khi đi qua vị trí vườn chanh dây của ông B1 T chỉ cho T1 đi vào khu vực rừng cây có cây gỗ chò Lông sát vườn chanh dây của ông B1 để T1 vào cưa. T1 sử dụng cưa máy cưa một cây gỗ chò lông thì cây gỗ Chò lông này đỗ vào vườn chanh dây của ông B1 gây sập vườn chanh dây. Hậu quả giàn chanh dây của ông B1 bị sập hoàn toàn với diện tích 3.170m² giá trị tài sản bị thiệt hại là 268.562.400đ.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại cùng các tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Bùi Quang T, Nguyễn Duy T1 đã phạm vào tội: “Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 180 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội gây thiệt hại đến tài sản của bị hại; ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh.

Xét vai trò, tính chất, mức độ của các bị cáo thì thấy rằng: Trong vụ án này các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn. Sau khi N1, T, H2 rủ nhau vào tiểu khu B cưa cây rừng lấy gỗ thì N1 đã gọi cho T1. Khi vào vị trí tiểu khu B thì T đã chỉ cho T1 vị trí để cưa cây gỗ Chò lông. Bị cáo T1 là người trực tiếp cưa cây gỗ Chò Lông. Xét thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo là tương đồng nhau. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự bằng nhau là phù hợp.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Bị cáo T, bị cáo T1 là người có nhân thân xấu. Năm 2007 bị cáo T bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Năm 2021, bị cáo T1 bị Cơ quan hạt kiểm lâm huyện L xử phạt 10.000.000đ về hành vi vận chuyển lâm sản trái phép. Tuy nhiên các bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Ngoài ra trước đó các bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử về tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét trong quá trình điều tra cũng như tại phiên Tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi đã thực hiện. Sau khi gây ra thiệt hại cho ông B1 thì các bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho ông B1. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

[4] Căn cứ tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận quan điểm luận tội và đề xuất mức hình phạt đối với các bị cáo của đại diện Viện kiểm sát huyện L tại phiên tòa. Áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo với hình phạt cải tạo không giam giữ, giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi cư trú và gia đình các bị cáo giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Theo kết quả định giá thì diện tích đất 3.170m² trồng cây chanh dây (mác mác kể cả giàn) có giá là 268.562.400đ. Các bị cáo đã bồi thường cho ông B1 số tiền là 40.000.000đ. Tại phiên Tòa ông B1 vắng mặt trong hồ sơ thể hiện ông B1 không yêu cầu bồi thường gì thêm. Vì vậy, về trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án đã được xử lý tại bản án hình sự sơ thẩm số 93/2023/HS - ST ngày 18/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

[7] Đối với Lê Phong N1, Nguyễn Văn H2, Phạm Văn Q mặc dù có tham gia khai thác lâm sản trái phép cùng bị cáo T và T1. Tuy nhiên tại thời điểm T và T1 cưa hạ cây gỗ Chò Lông đổ xuống làm sập hoàn toàn giàn Chanh dây của ông B1 thì không có mặt, việc xác định vị trí cây cưa hạ trên là do T và T1 tự xác định. N1, H2, Q không tham gia và không biết nên N1, H2, Q không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội: “Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản”.

[8] Đối với hành vi của Lê Phong N1, Nguyễn Văn H2, Phạm Văn Q và bị cáo Bùi Quang T, Nguyễn Duy T1 khai thác trái phép lâm sản trên đã được xử lý tại Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2023/HS-ST ngày 18/8/2023 của Tòa án huyện Lâm Hà về tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” quy định tại khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự;

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Bùi Quang T, Nguyễn Duy T1 phạm tội: “Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 180; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Bùi Quang T, bị cáo Nguyễn Duy T1 mỗi bị cáo 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

    Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Các bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.

    Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.

  2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo mỗi người phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (17/5/2024) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKS, CA huyện Lâm Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Hà;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS - BP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS - ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ - TỈNH LÂM ĐỒNG về vụ án hình sự sơ thẩm về tội "vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản"

  • Số bản án: 70/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội "Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ - TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Quang Thắng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger