|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 70/2024/DS-ST Ngày 16 tháng 5 năm 2024 V/v tranh chấp: “Hợp đồng góp hụi” |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Huy Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Bền .
- 2. Ông Lê Văn Minh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Trương Tấn Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Không có.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự đã thụ lý số: 56/2024/TLST-DS ngày 31/01/2024, về tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST-DS ngày 12/4/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Phúc H (Bé Ba), sinh năm 1982 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Bị đơn: Bà Phạm Thị Thùy T (Bé T), sinh năm: 1968 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 16/01/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Nguyễn Phúc H trình bày: Do mối quan hệ quen biết nên vào năm 2020, ông có tham gia chơi hụi do bà Phạm Thị Thùy T làm chủ hụi, cụ thể như sau:
Dây hụi 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui 01 lần, khui ngày 10/3/2020, gồm 28 phần, ông tham gia chơi 01 phần và đóng được 17 kỳ hụi sống, mỗi kỳ đóng 750.000 đồng, tương ứng với số tiền là 750.000 đồng x 17 = 12.750.000 đồng. Sau đó vỡ hụi nên bà T còn nợ ông số tiền 12.750.000 đồng.
Dây hụi 2.000.000 đồng, mỗi tháng khui 01 lần, khui ngày 10/4/2020, gồm 28 phần, ông tham gia chơi 03 phần và đóng được 13 kỳ hụi sống, mỗi kỳ đóng 4.350.000 đồng/03 phần, tương ứng với số tiền là 4.350.000 đồng x 13 = 56.550.000 đồng. Sau đó vỡ hụi nên bà T còn nợ ông số tiền 56.550.000 đồng.
Dây hụi 2.000.000 đồng, mỗi tháng khui 02 lần, khui ngày 25/5/2020, gồm 32 phần, ông tham gia chơi 02 phần và đóng được 23 kỳ hụi sống, mỗi kỳ đóng 3.000.000 đồng/02 phần, tương ứng với số tiền là 3.000.000 đồng x 23 = 69.000.000 đồng. Sau đó vỡ hụi nên bà T còn nợ ông số tiền 69.000.000 đồng. Tổng cộng, bà T còn nợ ông 138.300.000 đồng. Từ khi bể hụi đến nay, bà T vẫn chưa trả cho ông được khoản tiền nào dù ông đã nhiều lần liên hệ yêu cầu bà T trả nợ.
Nay, ông yêu cầu bà Phạm Thị Thùy T trả số tiền nợ hụi là 138.300.000 đồng. Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
Tại bản tự khai ngày 21/3/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là bà Phạm Thị Thùy T trình bày: Đối với 03 sổ ghi hụi mà ông H (Bé B) cung cấp cho Toà, cụ thể là sổ ghi hụi dây hụi 2.000.000 đồng, khui ngày 25/5/2020, sổ ghi hụi dây hụi 2.000.000 đồng, khui ngày 10/4/2020 và sổ ghi hụi dây hụi 1.000.000 đồng, khui ngày 10/3/2020 là do bà viết. Khoảng 05 tháng đầu của từng dây hụi là do bà tự nguyện ghi, còn sau đó thì do ông H bắt bà ghi. Khi ông H bắt bà ghi 03 sổ hụi trên thì có nói bà phải cho hốt thì mới đóng tiếp nếu không sẽ ngưng đóng hụi. Nội dung của 03 sổ ghi hụi mà bà viết cho ông H thể hiện số thứ tự, ngày tháng năm và số tiền mà ông H đóng hụi từng kỳ. Cứ có ghi số thứ tự, ngày tháng năm là đợt đó có đóng hụi. Nếu có ghi số thứ tự, ngày tháng năm mà không ghi số tiền là do bà thiếu sót. Thông thường dây hụi 1.000.000 đồng/tháng thì khi đến kỳ hốt hụi, hụi viên sẽ bỏ khoảng 250.000 đồng đến 300.000 đồng.
Hoàn cảnh gia đình bà hiện đang rất khó khăn, chồng mới mất, con bỏ đi, bà đang ở với cháu ngoại 5 tuổi. Bà trình bày hoàn cảnh để Toà án biết xem xét giúp bà.
Tại phiên tòa, ông H vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như đã trình bày trước đây. Bà T cho rằng ông H có chơi 03 dây hụi do bà làm chủ, gồm hụi 1.000.000 đồng và 2.000.000 đồng, bà đã giao tiền của 02 dây hụi 2.000.000 đồng cho ông H hốt, còn lại 01 dây hụi 1.000.000 đồng, bà không nhớ số tiền bao nhiêu nhưng do hoàn cảnh khó khăn, những người thiếu tiền hụi khác chưa trả cho bà, khi nào họ trả thì bà mới có tiền trả ông H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Ông Nguyễn Phúc H khởi kiện bà Phạm Thị Thùy T yêu cầu trả số tiền hụi là 138.300.000 đồng nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa ông H và bà T là tranh chấp hợp đồng góp hụi được quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Hội đồng xét xử nhận thấy, căn cứ vào 03 sổ ghi hụi khui ngày 10/3/2020, khui ngày 10/4/2020, khui ngày 25/5/2020, bản tự khai ngày 21/3/2024 của bà T và lời trình bày của các bên đương sự thể hiện, ông Nguyễn Phúc H có tham gia chơi trong 03 dây hụi mà bà Phạm Thị Thùy T làm chủ. Dây hụi 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui 01 lần, khui ngày 10/3/2020, gồm 28 phần, ông H tham gia chơi 01 phần và đóng được 17 kỳ hụi sống, mỗi kỳ đóng 750.000 đồng, tương ứng với số tiền là 12.750.000 đồng. Dây hụi 2.000.000 đồng, mỗi tháng khui 01 lần, khui ngày 10/4/2020, gồm 28 phần, ông H tham gia chơi 03 phần và đóng được 13 kỳ hụi sống, mỗi kỳ đóng 4.350.000 đồng/03 phần, tương ứng với số tiền là 56.550.000 đồng. Dây hụi 2.000.000 đồng, mỗi tháng khui 02 lần, khui ngày 25/5/2020, gồm 32 phần, ông H tham gia chơi 02 phần và đóng được 23 kỳ hụi sống, mỗi kỳ đóng 3.000.000 đồng/02 phần, tương ứng với số tiền là 69.000.000 đồng. Cả 03 dây hụi sau đó đều vỡ nên tổng số tiền bà T còn nợ ông H là 138.300.000 đồng. Từ khi vỡ hụi đến nay, bà T chưa trả cho ông H được khoản tiền nào dù ông H đã nhiều lần liên hệ với bà T yêu cầu trả nợ. Do bà T vi phạm sự thỏa thuận, không trả tiền hụi đã đóng sau khi vỡ hụi nên ông H yêu cầu bà T trả số tiền hụi mà ông đã đóng tổng cộng là 138.300.000 đồng khi án có hiệu lực pháp luật là hoàn toàn có cơ sở.
Việc bà T cho rằng đã giao tiền 2 dây hụi 2.000.000 cho ông H hốt, bà không có chứng cứ chứng minh nên lời trình bày của bà là không có cơ sở.
Từ phân tích trên, cần buộc bà Phạm Thị Thùy T có nghĩa vụ trả số tiền nợ hụi cho ông Nguyễn Phúc H là 138.300.000 đồng. Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H được Hội đồng xét xử chấp nhận nên ông H được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp. Bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Khoản 2 Điều 357, Điều 471 Bộ luật dân sự 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án. Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 về họ, hụi, biêu, phường.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Phúc H.
1/ Buộc bà Phạm Thị Thùy T trả cho ông Nguyễn Phúc H số tiền 138.300.000 đồng (Một trăm ba mươi tám triệu ba trăm nghìn đồng). Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu bên phải thi hành án chậm trả số tiền trên thì bên phải thi hành án còn phải trả lãi trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
2/ Về án phí: Bà Phạm Thị Thùy T phải chịu 6.915.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. H1 lại cho ông Nguyễn Phúc H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.460.000 đồng theo biên lai số 0010862 ngày 24/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành.
3/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Huy Vũ |
Bản án số 70/2024/DS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 70/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
