|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 70/2024/DS-ST Ngày: 15-11-2024 “V/v tranh chấp qsd đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Công Hảo
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Đinh Cường
2/ Ông Nguyễn Văn Phẩm
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mai Phụng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Hương – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 08 và 15 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai, theo thủ tục thông thường vụ án dân sự thụ lý số 209/2022/ TLST- DS ngày 15 tháng 12 năm 2022, về việc “Tranh chấp QSD đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1958 (có mặt). Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn:
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Đại diện theo uỷ quyền của ông L là anh Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1982. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thùy C- Là luật sư thuộc văn phòng L4- Đoàn luật sư tỉnh V. Địa chỉ: F P, phường D, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
2.1 Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1969 (có mặt). Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
2.2 Bà Lê Thị Sa L1, sinh năm 1968 (có mặt). Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn H là anh Lê Tấn P, sinh năm 1976. Địa chỉ: ấp T, xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
3.1 Ông Lê Văn C1, sinh năm 1961 (có mặt). Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
3.2 Anh Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1982 (có mặt).
3.3 Chị Đinh Thùy T, sinh năm 1983 (có mặt).
Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
3.4 Chị Nguyễn Thị Trúc L2, sinh năm 1990 (có mặt). Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Văn L, đại diện theo uỷ quyền là anh Nguyễn Hoàng V trình bày:
Năm 1992, ông Nguyễn Văn L nhận chuyển nhượng từ ông Lê Văn C1 một phần QSDĐ theo diện tích hiện trạng với giá 07 giạ luá, khi nhận chuyển nhượng QSD đất thì không biết số thửa, diện tích cụ thể, do ai đứng tên giấy CNQSDĐ, ông Lê Văn C1 cho biết đây là QSD đất của cha ông C1 là ông Lê Văn Ú (đã chết) để lại. Sau khi nhận chuyển nhượng QSDĐ thì ông L đã sử dụng và trồng một số cây như D, X đến năm 2010 ông L giao cho con trai là anh Nguyễn Hoàng V xây dựng nhà và xây hàng rào, không ai tranh chấp, ngăn cản. Sau khi anh V đi làm thủ tục cấp giấy CNQSDĐ thì phát hiện phía ông Nguyễn Văn H đã kê khai và được cấp giấy CNQSDĐ năm 2002 nên ông L làm thủ tục khởi kiện ra UBND xã T hoà giải không thành, sau đó ông Nguyễn Văn L khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn H trả lại ông L diện tích đất khoản 400m², thuộc một phần thửa 248, tờ bản đồ số 6, tổng diện tích 2590m², mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm, tọa lạc ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long do ông Nguyễn Văn H đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ.
Qua khảo sát, đo đạc và định giá tài sản phía ông L thống nhất kết quả và thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện cụ thể như sau:
Ông Nguyễn Văn L xác định diện tích đất tranh chấp như sau: Diện tích QSD đất 595,3m² gồm các mốc 14,15,10,c,b,13,14 thuộc tách thửa 244-1; Diện tích QSD đất 99,8m² gồm các mốc 1,2,3,15,14,13,b,a,d,1 thuộc tách thửa 244-2 và diện tích QSD đất 11,9m² gồm các mốc 15,3,10,15 thuộc tách thửa 244-3) theo tư liệu CTĐ do ông Nguyễn Văn H đứng tên GCNQSDĐ.
Ông Nguyễn Văn L thông qua người đại diện là anh Nguyễn Hoàng V có thay đổi, bổ sung và yêu cầu phía ông Nguyễn Văn H cùng bà Lê Thị Sa L3, chị Nguyễn Thị Trúc L2 công nhận QSD đất thuộc tách thửa 244-1, có diện tích QSD đất 595,3m² cùng toàn bộ tài sản trên đất gồm các mốc 14,15,10,c,b,13,14 thuộc một phần thửa đất 248 do ông Nguyễn Văn H đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ là quyền sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Văn L để ông L kê khai đăng ký, chỉnh lý biến động để được cấp giấy chứng nhận QSDĐ.
Đối với 02 tách thửa 244-2 và 244-3 hiện trạng sử dụng đất là lối đi vào phần đất bên trong của hộ ông H, ông L đồng ý giao hộ ông Nguyễn Văn H tiếp tục quản lý, sử dụng làm lối đi không tranh chấp trong vụ án này.
Phần tài sản trên đất tranh chấp gồm có: 01 căn nhà cấp 4 và 12 cây Dừa trồng năm 2010 và 01 cây Dừa trồng năm 1992; có 03 cây Xoài trồng năm 2019; 02 cây Mít trồng năm 2008 theo biên bản xét thẩm định tại chổ ngày 23/7/2024 và đã được Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng dân sự định giá các tài sản này theo biên bản ngày 23/7/2024.
Đối với hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ của ông L với ông Lê Văn C1 nếu toà án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L thì ông L, ông C1 tự thoả thuận giải quyết không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
Bị đơn ông Nguyễn Văn H (người đại diện theo ủy quyền anh Lê Tấn P trình bày:
Ông Nguyễn Văn H đã cung cấp cho Tòa án giấy chứng nhận QSD đất thuộc thửa 248 diện tích 2590m², mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm, tọa lạc ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long, được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy CNQSDĐ năm 2002 nên đối với yêu cầu khởi kiện của ông L ông H không đồng ý.
Đối với 02 tách thửa 244-2 và 244-3 hiện trạng sử dụng đất là lối đi vào phần đất bên trong của hộ ông H, ông L đồng ý giao hộ ông Nguyễn Văn H tiếp tục quản lý, sử dụng làm lối đi không tranh chấp trong vụ án này hộ ông H hoàn toàn đồng ý.
Đối với QSD đất thuộc tách thửa 244-1, có diện tích QSD đất 595,3m² cùng toàn bộ tài sản trên đất gồm các mốc 14,15,10,c,b,13,14 thuộc một phần thửa đất 248 do ông Nguyễn Văn H đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ là quyền sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Văn L phía ông L yêu cầu công nhận cho ông L để kê khai đăng ký, chỉnh lý biến động được cấp giấy chứng nhận QSDĐ, đối với yêu cầu này phía ông Nguyễn Văn H không đồng ý. Nếu đặt ra thoả thuận phía ông Nguyễn Văn H yêu cầu ông Nguyễn Văn L trả giá trị của QSD đất diện tích 595,3m² mục đích sử dụng đất CLN với giá 200.000đồng/01m².
Ông Nguyễn Văn H thống nhất tài sản trên đất thuộc quyền sở hữu của ông L, anh V, chị T gồm: 01 căn nhà cấp 4 và 12 cây Dừa trồng năm 2010 và 01 cây Dừa trồng năm 1992; có 03 cây Xoài trồng năm 2019; 02 cây Mít trồng năm 2008 theo biên bản xét thẩm định tại chổ ngày 23/7/2024 và đã được Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng dân sự định giá các tài sản này theo biên bản ngày 23/7/2024.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Ông Lê Văn C1 trình bày:
ông Lê Văn C1 thừa nhận có chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn L diện tích QSD đất khoản 400m² và hiện nay là phần đất tranh chấp theo đo đạc của Toà án, diện tích cụ thể bao nhiêu thì ông Lê Văn C1 không biết, khi chuyển nhượng QSDĐ cho ông L hai bên thoả thuận bằng miệng, giá trị chuyển nhượng 07 giạ lúa, nhận lúa xong ông C1 chỉ ông L sử dụng đất, thực tế giấy chứng nhận QSD đất, số thửa, diện tích cụ thể do ai là người chủ sử dụng hợp pháp phía ông C1 không biết, chỉ biết diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc từ cha ruột ông C1 là ông Lê Văn Ú, ông C1 chuyển nhượng cho ông L, còn yêu cầu của các bên phía ông C1 không có ý kiến.
Anh Nguyễn Hoàng V trình bày:
Anh Nguyễn Hoàng V là con ruột của ông Nguyễn Văn H, diện tích đất tranh chấp cùng toàn bộ tài sản có trên đất do anh V, chị T đang quản lý, xây dựng và sử dụng từ năm 2010 đến nay có nguồn gốc từ cha ruột anh V là ông Nguyễn Văn L chuyển nhượng từ ông Lê Văn C1. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L phía anh V hoàn toàn thống nhất, không có bất cứ yêu cầu nào khác.
Chị Đinh Thùy T trình bày:
Thống nhất ý kiến trình bày, yêu cầu của ông Nguyễn Văn L.
Chị Nguyễn Thị Trúc L2 trình bày:
Thống nhất ý kiến trình bày và yêu cầu của ông Nguyễn Văn H.
Bà Lê Thị Sa L1 trình bày:
Bà Sa L1 thống nhất ý kiến trình bày và yêu cầu của ông Nguyễn Văn H.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L là Luật sư Nguyễn Thị Thùy C trình bày quan điểm giải quyết vụ án:
Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L công nhận diện tích 595,3m² gồm các mốc 14,15,10,c,b,13,14 thuộc tách thửa 244-1 cùng toàn bộ tài sản gắn liền với QSDĐ thuộc QSD hợp pháp của ông L để ông L kê khai, đăng ký và được cấp giấy chứng nhận QSDĐ với các lý do sau:
- Ông Nguyễn Văn L đã sử dụng phần diện tích đất này từ năm 1992 đến năm 2010 thì anh V, chị T ( con ruột và con dâu của ông L) quản lý sử dụng, điều này chứng minh hộ ông L đã quản lý, sử dụng phần đất này trên 30 năm
- Khi anh V xây dựng nhà, trồng cây, làm hàng rào thì ông Nguyễn Văn H biết mà không tranh chấp chứng tỏ ông H thừa nhận QSD đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít phát biểu, đề xuất quan điểm:
Trong quá trình tố tụng, Tòa án và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng.
Về nội dung: Đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn H.
Về chi phí tố tụng: Buộc đương sự nộp theo quy định của Điều 156, 157 của Bộ luật TTDS.
Án phí: Đương sự phải nộp theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 26 và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện “Tranh chấp quyền sử dụng đất” quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn và QSD đất có địa chỉ cư trú tại huyện M, tỉnh Vĩnh Long nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
[2] Về nội dung
Ông Nguyễn Văn L thông qua người đại diện là anh Nguyễn Hoàng V có thay đổi, bổ sung và yêu cầu phía ông Nguyễn Văn H cùng bà Lê Thị Sa L3, chị Nguyễn Thị Trúc L2 công nhận QSD đất thuộc tách thửa 244-1, có diện tích QSD đất 595,3m² cùng toàn bộ tài sản trên đất gồm các mốc 14,15,10,c,b,13,14 thuộc một phần thửa đất 248 do ông Nguyễn Văn H đứng tên GCNQSDĐ là quyền sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Văn L để ông L kê khai đăng ký, chỉnh lý biến động để được cấp GCNQSDĐ.
Đối với 02 tách thửa 244-2 và 244-3 hiện trạng sử dụng đất là lối đi vào phần đất bên trong của hộ ông H, ông L đồng ý giao hộ ông Nguyễn Văn H tiếp tục quản lý, sử dụng làm lối đi không tranh chấp trong vụ án này.
Xét phạm vi và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L do anh Nguyễn Hoàng V là người đại diện.
Tại phiên toà, các đương sự thoả thuận không tranh chấp diện tích 99,8m² gồm các mốc 1,2,3,15,14,13,b,a,d,1 thuộc tách thửa 244-2; 11,9m² gồm các mốc 15,3,10,15 thuộc tách thửa 244-3 để phía bị đơn ông Nguyễn Văn H quản lý, sử dụng QSDĐ cùng toàn bộ tài sản trên đất để làm lối đi nên HĐXX ghi nhận.
Hội đồng xét xử xem xét QSD đất tranh chấp có diện tích 595,3m² gồm các mốc 14,15,10,c,b,13,14 thuộc tách thửa 244-1 (248) cùng toàn bộ tài sản gắn liền với QSDĐ có 01 căn nhà cấp 4 và 12 cây Dừa trồng năm 2010 và 01 cây Dừa trồng năm 1992; có 03 cây Xoài trồng năm 2019; 02 cây Mít trồng năm 2008 theo biên bản xét thẩm định tại chổ ngày 23/7/2024 và đã được Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng dân sự định giá các tài sản này theo biên bản ngày 23/7/2024.
Xét, theo tư liệu của cơ quan chuyên môn phúc đáp cho Toà án cụ thể Công văn số 669/CNVP-ĐKĐĐ, ngày 28/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M thể hiện như sau:
Thửa đất 248 (thửa mới 244): diện tích 2590m², mục đích sử dụng đất ở nông thôn và trồng cây lâu năm do ông Nguyễn Văn H có đơn xin đăng ký QSD đất năm 1993 đến năm 2022 đứng tên Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất có số phát hành R 044717, số vào sổ 35968 được UBND huyện M, tỉnh Vĩnh Long cấp Giấy chứng nhận QSDĐ ngày 22/01/2002.
Năm 2015, thực hiện theo tư liệu bản đồ chính quy thành thửa 246, tờ bản đồ số 13, diện tích 2037,8m² do hộ ông Nguyễn Văn H kê khai và đứng tên G nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất có số phát hành CA 134659, số vào sổ CH04352 được UBND huyện M, tỉnh Vĩnh Long cấp Giấychứng nhận QSDĐ ngày 28/9/2015.
Mặc khác, diện tích đất tranh chấp trong vụ án này thuộc thửa 248 do hộ ông Nguyễn Văn H được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận QSD đất và ông Nguyễn Văn H đã kê khai đăng ký thửa đất này từ năm 1993, đối chiếu lời trình bày của ông Nguyễn Văn L (đại diện là anh Nguyễn Hoàng V) thì diện tích đất 595,3m² chuyển nhượng từ ông Lê Văn C1 năm 1992 nên khởi kiện yêu cầu phía bị đơn ông Nguyễn Văn H trả lại QSD đất để Toà án công nhận diện tích đất này thuộc QSD hợp pháp của ông L để ông L kê khai, đăng ký được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận QSD đất là không có căn cứ chấp nhận vì phía nguyên đơn không đưa ra bất cứ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông C1 là hợp pháp.
Tuy nhiên, qua khảo sát đo đạc và xem xét thẩm định tại chổ theo sự xác định ranh của các đương sự thì phần đất tranh chấp phía nguyên đơn đã sử dụng phần đất này ổn định có xây dựng nhà và tạo lập nhiều tài sản và trồng cây ăn quả lâu năm mặc khác giá trị tài sản khi định giá cao hơn giá trị quyền sử dụng đất nếu di dời sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên cần giữ nguyên hiện trạng cho phía nguyên đơn tiếp tục quản lý sử dụng phần diện tích đất tranh chấp và trả giá trị cho ông H.
Ông Nguyễn Văn H đưa ra giá trị QSD đất để thoả thuận là 200.000đồng/ 01m² tuy nhiên đại diện ông L không đồng ý, phía ông H không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh nên HĐXX lấy giá đất của Toà án thành lập Hội đồng định giá làm căn cứ xét xử. Từ đó ông Nguyễn Văn L, anh Nguyễn Hoàng V, chị Đinh Thùy T có nghĩa vụ liên đới trả ông Nguyễn Văn H 595,3m² x 71.000đồng/01m² = 42.266.300đồng giá trị QSDĐ là phù hợp Điều 175, 176 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 100, 166, 167, 168 và 188 của Luật đất đai năm 2013.
Từ những nhận định trên đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L là không có căn cứ chấp nhận; yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn H là có căn cứ chấp nhận.
[3] Chi phí tố tụng: Buộc nguyên đơn nộp chi phí tố tụng là 5.047.000₫ nguyên đơn nộp xong nên không phải nộp thêm là phù hợp Điều 157, 164 của Bộ luật TTDS.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít là có căn cứ chấp nhận toàn bộ.
[5] Xét đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận.
[6] Án phí: Các đương sự nộp theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 166, 167, 168 và 188 Luật Đất đai năm 2013; Điều 175, 176 của Bộ Luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 29 điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Điều 147, 157, 164, 227, 228, 235, 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 4 Điều 26 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn H.
- Chi phí tố tụng khác: Buộc nguyên đơn nộp chi phí tố tụng là 5.047.000đồng (năm triệu không trăm bốn mươi bảy ngàn đồng) nguyên đơn ông Nguyễn Văn L đã nộp xong nên không phải nộp thêm.
- Về án phí: Miễn án phí cho ông Nguyễn Văn L vì là người cao tuổi. Anh Nguyễn Hoàng V chịu án phí 704.000đồng (bảy trăm lẻ bốn ngàn đồng); chị Đinh Thùy T chịu án phí 704.000đồng (bảy trăm lẻ bốn ngàn đồng).
Buộc ông Nguyễn Văn L, anh Nguyễn Hoàng V, chị Đinh Thùy T trả ông Nguyễn Văn H số tiền 42.266.300đồng (bốn mươi hai triệu hai trăm sáu mươi sáu ngàn ba trăm đồng) là giá trị của QSD đất có diện tích 595,3m² gồm các mốc 14,15,10,c,b,13,14 thuộc tách thửa 244-1 nằm trong thửa đất 248 (244) do ông Nguyễn Văn H đứng tên GCNQSD đất.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ông Nguyễn Văn L, anh Nguyễn Hoàng V, chị Đinh Thùy T được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích 595,3m², mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm cùng toàn bộ tài sản gắn liền với QSDĐ gồm các mốc 14,15,10,c,b,13,14 thuộc tách thửa 244-1 thuộc một phần thửa đất 248 (244), tờ bản đồ số 6 do ông Nguyễn Văn H đứng tên giấy chứng nhận QSD đất (có trích đo kèm theo).
Đương sự được quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền quản lý đất đai tiến hành thủ tục kê khai, chỉnh lý biến động lại quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn L, anh Nguyễn Hoàng V, chị Đinh Thùy T trả lại ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị Sa L1, chị Nguyễn Thị Trúc L2 QSDĐ có diện tích 99,8m², mục đích sử dụng đất CLN gồm các mốc 1,2,3,15,14,13,b,a,d,1 thuộc tách thửa 244-2; QSDĐ có diện tích 11,9m² mục đích sử dụng đất CLN gồm các mốc 15,3,10,15 thuộc tách thửa 244-3 thuộc một phần thửa đất 248 (244), tờ bản đồ số 6 do ông Nguyễn Văn H đứng tên giấy chứng nhận QSD đất (có trích đo kèm theo).
Đương sự được quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền quản lý đất đai tiến hành thủ tục kê khai, chỉnh lý biến động, nhập thửa quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
Ông Nguyễn Văn H không phải chịu án phí nên hoàn trả ông Nguyễn Văn H 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí theo lai thu số 0005909, ngày 24/7/2024 mà ông H đã nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ hẩm công khai báo đương sự có mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: -TAND tỉnh Vĩnh Long; -VKSND huyện Mang Thít; -Chi cụcTHADS huyện Mang Thít; -Đương sự; (Đã ký) -Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Huỳnh Công Hảo |
Bản án số 70/2024/DS-ST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 70/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án giữa ông L và ông H
