Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 70/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15-8-2024

V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Hòa.

Bà Trần Thị Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Trần Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 73/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 281/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị H, sinh năm 1973.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà E, đường L, khối B, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Hiện sinh sống tại Cộng hòa liên bang Đ.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Tiến D, sinh năm 1975.

Nơi thường trú: Số B đường V, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn là chị Hồ Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Tiến D tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 29/12/2004 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, cả hai bất đồng quan điểm sống và thường xuyên cãi vã, không tìm được tiếng nói chung. Chị H về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, anh chị đã ly thân cách đây 10 năm. Năm 2022 chị H xuất khẩu lao động tại Cộng hoa liên bang Đ, từ đó đến nay anh chị không liên lạc và không quan tâm tới nhau. Nay xét thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không có cơ hội hàn gắn, chị H đề nghị Tòa án xử ly hôn anh D.

- Về con chung: Quá trình chung sống, anh chị có 02 con chung là Nguyễn Thủy Tiên sinh ngày 31/8/2001 và Nguyễn Thu T sinh ngày 28/6/2005, cháu T1 và cháu T đều đã trưởng thành, trên 18 tuổi nên chị H không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về công nợ chung, tài sản chung: Anh chị không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản làm việc ngày 24/7/2024, bị đơn anh Nguyễn Tiến D trình bày: Về thời điểm đăng ký kết hôn, sự tự nguyện khi kết hôn, về con chung, tài sản chung và công nợ chung như chị H trình bày là đúng. Anh và chị H bắt đầu mâu thuẫn từ năm 2009, sau đó đã hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả. Từ đó đến nay anh chị không liên hệ, không quan tâm đến nhau, anh chỉ biết chị H hiện đang sinh sống tại Cộng hòa liên bang Đ thông qua các con. Chị H khởi kiện ly hôn, anh D đồng ý vì không còn tình cảm với chị H. Về con chung anh không đề nghị Tòa án giải quyết do hai con chung đều đã trưởng thành. Anh và chị H không có tài sản chung, công nợ chung nên anh không đề nghị Tòa án xem xét. Do tình hình sức khỏe, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết số 326/2016/UBTV QH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xử ly hôn giữa chị Hồ Thị H và anh Nguyễn Tiến D. Án phí ly hôn: Chị H phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Anh Nguyễn Tiến D cư trú tại phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; chị Hồ Thị H đang sinh sống tại Cộng hòa liên bang Đ. Chị H có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn anh D. Căn cứ Điều 28, Điều 37, Điều 39, Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự, việc giải quyết tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

Chị H có đơn xin giải quyết vắng mặt. Tại biên bản làm việc ngày 24/7/2024, biên bản tống đạt Quyết định xét xử ngày 29/7/2024, anh D đều trình bày do điều kiện sức khỏe, đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt chị H, anh D.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị H và anh Nguyễn Tiến D tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 29/12/2004 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, mặc dù nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả. Chị H trình bày mâu thuẫn trầm trọng, chị đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống cách đây 10 năm, từ đó đến nay cả hai không liên lạc, không quan tâm tới nhau. Anh D đồng ý ly hôn do nhận thấy không còn tình cảm với chị H.

Xét thấy tình cảm vợ chồng không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Thủy Tiên sinh ngày 31/8/2001 và Nguyễn Thu T sinh ngày 28/6/2005, hiện cháu T1 và cháu T đều đã trưởng thành, trên 18 tuổi, đủ khả năng lao động tự lập nên anh chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

[4] Về tài sản chung và công nợ chung: Do Anh D và chị H không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

[5] Về án phí: Chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Xử ly hôn giữa chị Hồ Thị H và anh Nguyễn Tiến D.
  2. Án phí: Chị Hồ Thị H phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0005748 ngày 04/6/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định. Chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Anh Dũng được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, chị H được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - Cục THADS tỉnh Nam Định;
  • - UBND phường Thống Nhất;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tiến Dũng

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tiến Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HNGĐ-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn

  • Số bản án: 70/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger