Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2024/HS-ST

Ngày 15/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Đình Hưng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Tư.
  2. Bà Nguyễn Thị Biên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án thành phố Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam công an tỉnh B. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử phiên tòa trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2024/HSST ngày 23 tháng 03 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54A /2024/QĐST-HS ngày 03/4/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1996; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn N, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá: 9/12; Con ông: Nguyễn Nghĩa Đ (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1971; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là thứ 2; Vợ: Hà Thị T2, sinh năm 2001; Có 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/8/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.

Bị cáo Nguyễn Ngọc T có mặt tại điểm cầu thành phần là Trại tạm giam Công an tỉnh B.

*Bị hại:

  1. Chị Nguyễn Xuân H, sinh năm 1984, (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số nhà F, ngõ C, đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

  1. Nguyễn Thị H1, sinh năm 1954, (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số A, hẻm B, ngõ E, đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1971, (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

  1. Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1977, (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn C, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

  1. Chị Hà Thị T2, sinh năm 2001, (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

  1. Anh Ngô Văn S, sinh năm 1992, (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn C, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

  1. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1996, (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn C, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

I. Hành vi cướp giật tài sản:

Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1996, trú tại thôn N, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang làm công nhân công ty SIFEX ở khu công nghiệp Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Khoảng tháng 02/2023, T có vay 20.000.000 đồng của App tín dụng trên mạng xã hội Facebook theo hình thức trả góp. Do không có tiền trả nợ nên T nảy sinh ý định bán chiếc xe máy Honda Vision biển số 98H1-420.18 đăng ký mang tên Hà Thị T2 là vợ của T để lấy tiền trả nợ.

Khoảng 09 giờ ngày 17/8/2023, T đi xe máy biển số 98H1-420.18 đến cửa hàng mua bán xe máy của anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1977 ở thôn C, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Tại đây, T bán xe máy cho anh T3 được 20.000.000 đồng rồi hỏi mượn chiếc xe máy khác của anh T3 để tạm đi lại. Anh T4 đồng ý và cho T mượn chiếc xe máy biển số 20N3-4566. Do T mượn xe máy nên anh T4 giữ lại 1.000.000 đồng để làm tin và trả cho T 13.000.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản 6.000.000 đồng. Sau khi bán xe, T đến cửa hàng mua bán điện thoại của anh Ngô Văn S, sinh năm 1992 ở thôn C, xã M, thị xã V nhờ chuyển 10.000.000 đồng tiền mặt vào tài khoản ngân hàng của T. Sau đó, T chuyển khoản 16.000.000 đồng vào tài khoản số 33045687 mở tại ngân hàng TMCP Q mang tên Phan Thanh A, sinh năm 1998, đăng ký hộ khẩu thường trú tại số D, đường B, phường B, thành phố B, tỉnh Bến Tre để trả nợ. T đi đến cửa hàng mua bán điện thoại của chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1991 ở thôn C, xã M, thị xã V nhờ chuyển 2.980.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của T. Sau khi chị N chuyển tiền xong, T sử dụng tài khoản MSB chuyển 2.900.000 đồng vào tài

khoản ngân hàng mang tên Phan Thanh A để trả nợ. Thời điểm này do bị hết tiền nên T nảy sinh ý định sẽ cướp giật tài sản để mua lại chiếc xe máy đã bán cho anh T4 trước đó. T điều khiển xe máy biển số 20N3-4566 đi trên các tuyến đường của thị xã V xem ai có tài sản sơ hở thì cướp giật nhưng không thực hiện được nên đi đến thành phố B để cướp giật tài sản.

Khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, T đi đến đường gom cao tốc Hà Nội - Bắc Giang thuộc địa phận phường D, thành phố B thì nhìn thấy chị Nguyễn Xuân H, sinh năm 1984, trú tại số nhà F, ngõ C, đường T, phường L, thành phố B đi xe đạp điện ở phía trước cùng chiều. Chị H có đeo 01 chiếc túi xách bằng da màu đen, hình chữ nhật ở trước ngực; bên trong túi có 6.100.000 đồng tiền mặt gồm nhiều loại tiền có mệnh giá khác nhau; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu xanh, không lắp sim và 01 ví bằng vải màu vàng bên trong có 01 thẻ căn cước công dân, 01 thẻ ATM ngân hàng A2, 01 thẻ ATM ngân hàng V đều mang tên Nguyễn Xuân H, 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Nguyễn Đức Bảo M và 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Nguyễn Trần Minh A1. T nảy sinh ý định cướp giật chiếc túi xách của chị H nên điều khiển xe đi theo sau chờ cơ hội. Khi chị H đi đến đường H thuộc địa phận thôn B, xã D, thành phố B, T điều khiển xe áp sát bên phải xe của chị H rồi dùng tay trái cầm vào quai đeo túi xách ở sau lưng nhấc lên đưa qua đầu chị H và giật mạnh. Chị H giằng lại chiếc túi xách nên bị ngã và chiếc túi xách rơi xuống đường. T điều khiển xe quay lại, xuống xe rồi đi đến cầm chiếc túi xách sau đó ngồi lên xe máy bỏ chạy về khu vực thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang thì dừng lại. Thương mở chiếc túi ra lấy số tiền 6.100.000 đồng và vứt chiếc túi xách xuống ao ven đường thì căn cước công dân, thẻ ATM ngân hàng A2 và 01 thẻ ATM ngân hàng V đều mang tên Nguyễn Xuân H bị rơi xuống đất. T nhặt căn cước công dân và 02 thẻ ATM cất vào túi vải đeo trên người.

Kết luận định giá tài sản số 165/KL-HĐ, ngày 29/08/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:

  • 01 chiếc túi xách nữ bằng da màu đen, hình chữ nhật, không có nhãn hiệu; có nắp đậy, trên nắp đậy có khuy cài bằng kim loại; có quai đeo bằng da màu đen; túi có 05 ngăn, mua từ năm 2012, đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 17/8/2023 là 100.000 đồng.
  • 01 chiếc ví bằng vải màu vàng, có 01 ngăn và có khóa kéo, không có nhãn hiệu, mua từ năm 2000, đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 17/8/2023 là 10.000 đồng.
  • 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9, màu xanh, đã qua sử dụng, mua từ tháng 4/2018 có giá trị tại thời điểm ngày 17/8/2023 là 1.500.000 đồng.

Đối với chị Nguyễn Xuân H bị ngã xuống đường bị thương xây sước da ở khuỷu tay phải, mu bàn tay phải, mu bàn tay trái không phải điều trị tại bệnh

viện. Chị H xác định thương tích không đáng kể nên từ chối giám định và không có đề nghị gì về thương tích nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị T1 là mẹ bị cáo T đã bồi thường cho chị Nguyễn Xuân H số tiền 7.710.000 đồng. Chị H không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với chiếc túi xách bằng da màu đen; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu xanh; 01 ví bằng vải màu vàng; 02 thẻ bảo hiểm y tế mà T khai vứt xuống ao ở thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu hồi được.

II. Hành vi trộm cắp tài sản

Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày 17/8/2023, Nguyễn Ngọc T đi xe máy biển số 20N3-4566 trên đường N, thành phố B thì nhìn thấy bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1954, trú tại số nhà A, hẻm B, ngõ E, đường N, phường N, thành phố B đang ngồi bán vé xổ số ở trên vỉa hè đường N phía trước tòa nhà VNPT; trên tay bà H1 có cầm một chiếc túi xách vải màu nâu hình chữ nhật. Bà H1 để trong túi 12.000.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen lắp 02 sim. T nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trong túi xách. Khi bà H1 cầm túi xách đi sang bàn bán xổ số của bà Dương Thị T5 ở gần đó để nói chuyện thì T điều khiển xe đi theo. Ngay sau đó, bà H1 đi về bàn bán vé xổ số của mình và để túi xách lên chiếc ghế rồi đi ra dắt chiếc xe đạp vào phía sau. Lúc này, T quan sát thấy bà H1 đang dắt xe đạp không để ý xung quanh nên điều khiển xe máy đi đến gần bàn bán vé xổ số rồi dừng lại, dùng tay phải lấy chiếc túi xách rồi điều khiển xe bỏ chạy. Bà H1 phát hiện T trộm cắp chiếc túi xách nên hô hoán và đuổi theo nhưng không kịp. T đi xe đến mương nước ở ven đường T thuộc địa phận thôn M, xã S, thành phố B thì dừng lại mở túi xách ra lấy số tiền 12.000.000 đồng rồi vứt chiếc túi xách xuống mương nước ven đường. Sau đó, T đi đến cửa hàng của anh Nguyễn Văn T3thôn C, xã M, thị xã V trả lại chiếc xe máy đã mượn của anh T3 và mua lại chiếc xe máy biển số 98H1-420.18 rồi đi đến công ty làm việc.

Kết luận định giá tài sản số 165/KL-HĐ ngày 29/08/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:

  • 01 chiếc túi xách bằng vải màu nâu hình chữ nhật, kích thước (28,5x21,5)cm có quai xách bằng vải màu nâu; dây đeo bằng vải màu đen có 05 ngăn đều có khóa kéo, trên khóa kéo đều có chữ “VABACO” mua năm 2018, đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 17/8/2023 là 40.000 đồng.
  • 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, mua từ 2020 đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 17/8/2023 là 100.000 đồng.
  • Chi phí làm lại 01 sim số điện thoại mạng Mobifone tại thời điểm bị ngày 17/8/2023 là 25.000 đồng.
  • Chi phí làm lại 01 sim số điện thoại mạng Vinaphone tại thời điểm ngày 17/8/2023 là 25.000 đồng.

Ngày 21/8/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B triệu tập Nguyễn Ngọc T đến làm việc thì T đầu thú và khai nhận hành vi cướp giật tài sản và trộm cắp tài sản như nêu trên. Quá trình tiếp nhận ra đầu thú, T giao nộp chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision biển số 98H1-420.18 và 01 chiếc áo chống nắng màu đen; 01 chiếc mũ bảo hiểm dạng lưỡi chai màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus.

Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Ngọc T đã thu giữ 01 quần dài bằng vải, màu trắng sữa; 01 đôi giày da màu đen.

Ngày 21/08/2023, chị Hà Thị T2 là vợ T giao nộp 01 túi vải có dây đeo màu đen, viền trắng; 01 thẻ căn cước công dân; 01 thẻ ATM A2 và 01 thẻ ATM ngân hàng V đều mang tên Nguyễn Xuân H. Cùng ngày, anh Nguyễn Văn T3 giao nộp chiếc xe máy biển số 20N3-4566 và 01 đăng ký xe mô tô.

Căn cứ lời khai của Nguyễn Ngọc T, ngày 26/8/2023 Cơ quan điều tra tiến hành truy tìm tại nương nước ven đường T thuộc thôn M, xã S, thành phố B đã thu giữ 01 chiếc túi xách bằng vải màu nâu và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel. Cơ quan điều tra cho bị cáo T quan sát những vật chứng nêu trên. Kết quả T xác nhận là những tài sản mà T đã trộm cắp của bà Nguyễn Thị H1 sau đó vứt tại đây.

Cơ quan điều tra cho Nguyễn Ngọc T xác định hiện trường và thực nghiệm điều tra. Kết quả, T xác định đúng địa điểm cướp giật tài sản và trộm cắp tài sản; thực hiện thành thục các động tác cướp giật tài sản của chị H và trộm cắp tài sản của bà H1 như đã khai.

Cơ quan điều tra thu giữ và trưng cầu giám định 01 file video của ngân hàng TMCP C1 chi nhánh B1; 05 file video của Công an thành phố B và 03 file video của anh Nguyễn Văn T3 ở thôn C, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang ghi lại hình ảnh liên quan hành vi phạm tội của Nguyễn Ngọc T.

Kết luận giám định số 2248/KL-KTHS ngày 17/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Không phát hiện dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 09 file được lưu trong 03 đĩa DVD-R gửi giám định.

Ngày 15/12/2023, Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Ngọc T xem các đoạn video trên. Kết quả T xác nhận có hình ảnh T mặc áo chống nắng màu đen; mặc quần vải màu trắng sữa; đao khẩu trang màu trắng; đội mũ bảo hiểm màu đen; điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển số 98H1-420.18 đi đến cửa hàng xe máy của anh Nguyễn Văn T3 ở thôn C, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang bán xe máy rồi mượn chiếc xe máy biển số 20N3-4566 của anh T3 đi trên các tuyến đường ở thị xã V; hình ảnh T điều khiển chiếc xe biển số 20N3-4566 đi đến đường N, thành phố B thực hiện hành vi trộm cắp chiếc túi xách của bà H1.

Cơ quan điều tra đã cho anh Nguyễn Văn T3 nhận dạng ảnh Nguyễn Ngọc T. Kết quả anh T3 nhận đúng ảnh và xác định T đã mượn của anh T3 chiếc xe máy biển số 20N3-4566 vào ngày 17/8/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị T1 đã bồi thường cho bà Nguyễn Thị H1 12.000.000 đồng. Bà H1 không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại chị Nguyễn Xuân H căn cước công dân và 02 thẻ ATM; trả lại bà Nguyễn Thị H1 chiếc túi xách bằng vải màu nâu, hình chữ nhật và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel; trả lại chị Hà Thị T2 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision biển số 98H1-420.18; trả lại anh Nguyễn Văn T3 chiếc xe máy biển số 20N3-4566 và đăng ký xe.

Những vật chứng còn lại đã thu giữ được Cơ quan điều tra nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.

Đối với anh Nguyễn Văn Tuấn cho Nguyễn Ngọc T mượn chiếc xe máy biển số 20N3-4566 nhưng không biết T sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Tại Cáo trạng số 69/CT-VKS ngày 20/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố Nguyễn Ngọc T về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • Bị cáo trình bày: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu như bản cáo trạng. Bị cáo thừa nhận toàn bộ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung, ép cung. Bị cáo giữ nguyên lời khai đã trình bày tại cơ quan điều tra. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố về tội danh, điều luật như vậy là đúng người, đúng tội, không bị oan. Trong quá trình điều tra, bị cáo bị thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, 01 áo chống nắng màu đen, sixe XL; 01 mũ bảo hiểm dạng lưỡi chai, màu đen; 01 quần dài bằng vải, màu trắng sữa; 01 đôi giày da màu đen, loại giày lười, bên trong có chữ ORSIL; 01 túi vải có dây đeo màu đen, viền trắng, mặt trước có in chữ adidas, trên nắp túi in dòng chữ “ THE BRAND DIE WELTMAR LA MARO”. Chiếc điện thoại không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên đề nghị xin lại, còn các tài sản khác không còn giá trị sử dụng đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
  • Bà Nguyễn Thị T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Bị cáo có tác động gia đình để bồi thường cho bị hại, số tiền bồi thường cho gia đình bị hại là số tiền của bà và bà không yêu cầu bị cáo phải trả lại bà số tiền mà bà đã bồi thường cho bị hại.
  • Chị Hà Thị T2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Chiếc xe Honda Vision BKS 98H1-420.18 đứng tên của chị. Chị và bị cáo có

bàn bạc về việc bán chiếc xe trên, chị có đồng ý cho bị cáo bán chiếc xe đó. Hiện nay chiếc xe trên chị vẫn đang quản lý, sử dụng.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Áp dụng điểm d khoản 2 điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 38 bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 03 (Ba) năm đến 03 (Ba) năm 06 (S1) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (C) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 1 điều 55 bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của 2 tội buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chấp hành hình phạt chung từ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng đến 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 21/8/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

  1. Về vật chứng:
  • Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Iphone 7 plus, vỏ màu hồng, số Imei 35535308232403 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • Tịch thu tiêu hủy: 01 áo chống nắng màu đen, sixe XL; 01 mũ bảo hiểm dạng lưỡi chai, màu đen; 01 quần dài bằng vải, màu tráng sữa; 01 đôi giày da màu đen, loại giày lười, bên trong có chữ ORSIL; 01 túi vải có dây đeo màu đen, viền trắng, mặt trước có in chữ adidas, trên nắp túi in dòng chữ “ THE BRAND DIE WELTMAR LA MARO”.
  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Ngọc T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, cảm thấy rất hối hận về hành vi của mình, bị cáo xin lỗi gia đình bị hại, mẹ và vợ bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên

trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự có mặt của đương sự: Bị hại, một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của những người này nên căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt họ.

[3] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, Kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 17/8/2023, Nguyễn Ngọc T điều khiển chiếc xe máy biển số 20N3-4566 đi trên các tuyến đường thành phố B mục đích để cướp giật tài sản. Khi chị Nguyễn Xuân H đi xe đạp điện trên đường H thuộc địa phận thôn B, xã D, thành phố B (trên người chị H có đeo chiếc túi xác bên trong có 6.100.000 đồng tiền mặt; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu xanh, không lắp sim và 01 ví bằng vải màu vàng bên trong có 01 thẻ căn cước công dân, 02 thẻ ATM, 02 thẻ bảo hiểm y tế) thì T điều khiển xe đi từ phía sau áp sát bên phải xe của chị H rồi dùng tay trái cầm vào quai đeo túi xách ở sau lưng nhấc lên đưa qua đầu chị H2 giật mạnh. Chị H giằng lại chiếc túi xách nên bị ngã và chiếc túi xách rơi xuống đường. Tổng tài sản mà T chiếm đoạt của chị H trị giá 7.710.000 đồng. Gia đình bị cáo đã bồi thường cho người bị hại.

Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Ngọc T đi xe máy biển số 20N3-4566 trên đường N, thành phố B thì nhìn thấy bà Nguyễn Thị H1 bán vé xổ số ở trên vỉa hè đường N, phía trước tòa nhà V. Bà H1 để chiếc túi xách vải màu nâu trên ghế, bên trong túi có 12.000.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen lắp 02 sim. Lợi dụng lúc bà H1 đang dắt xe đạp không để ý xung quanh nên T điều khiển xe máy đi đến gần rồi lén lút lấy chiếc túi xách sau đó điều khiển xe bỏ chạy. Tổng tài sản mà T chiếm đoạt của bà H1 trị giá 12.190.000 đồng. Gia đình bị cáo đã bồi thường cho người bị hại.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là sai, nhưng vẫn thực hiện, lỗi của bị cáo là cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Bản cáo trạng số 69/CT-VKS ngày 20/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

  • Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra, bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại, bị cáo đầu thú, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Do vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần khi lượng hình.

[7] Về tính chất hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân. Do vậy cần phải có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung. Về mức hình phạt như lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang là phù hợp đủ để giúp bị cáo cải tạo thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[9] Về vật chứng:

  • Đối với 01 điện thoại Iphone 7 plus, vỏ màu hồng, số Imei 35535308232403 tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • Đối với 01 áo chống nắng màu đen, sixe XL; 01 mũ bảo hiểm dạng lưỡi chai, màu đen; 01 quần dài bằng vải, màu tráng sữa; 01 đôi giày da màu đen, loại giày lười, bên trong có chữ ORSIL; 01 túi vải có dây đeo màu đen, viền trắng, mặt trước có in chữ adidas, trên nắp túi in dòng chữ “ THE BRAND DIE WELTMAR LA MARO” là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Ngoài ra, cần tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án và áp dụng các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm d khoản 2 điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 38 bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.

  • Căn cứ khoản 1 điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 38 bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T. 07 (B) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

  • Căn cứ điểm a khoản 1 điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của 2 tội buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chấp hành hình phạt chung là 03 (Ba) năm 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 21/8/2023.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
  1. Về vật chứng:
  • Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Iphone 7 plus, vỏ màu hồng, số Imei 35535308232403 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • Tịch thu tiêu hủy: 01 áo chống nắng màu đen, sixe XL; 01 mũ bảo hiểm dạng lưỡi chai, màu đen; 01 quần dài bằng vải, màu tráng sữa; 01 đôi giày da màu đen, loại giày lười, bên trong có chữ ORSIL; 01 túi vải có dây đeo màu đen, viền trắng, mặt trước có in chữ adidas, trên nắp túi in dòng chữ “ THE BRAND DIE WELTMAR LA MARO".
  1. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  1. Về quyền kháng cáo:
  • Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Giang;
  • - Cơ quan THAHS Công an thành phố Bắc Giang;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - UBND xã Cao Xá, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án; Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Đình Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 15/04/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về vụ án hình sự sơ thẩm về tội cướp giật tài sản và trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 70/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Cướp giật tài sản và Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc Th phạm tội " Cướp giật tài sản" và "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger