|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 70/2024/HNGĐ-PT Ngày: 13-06-2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Trang.
Các Thẩm phán: Bà Võ Thị Mỹ Hạnh;
Ông Phan Trịnh Minh Đức.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 119/2023/TLPT-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 441/2023/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 1 bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2129/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 6773/QĐPT-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Minh Y, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: Căn hộ H chung cư H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ: Căn hộ C, tầng D lô D, chung cư A, đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền về tài sản của bị đơn: Ông Hồ Văn Ú, sinh năm 1980 (có mặt).
Địa chỉ : Ấp Đ, N, C, tỉnh Trà Vinh theo giấy ủy quyền ký ngày 25/8/2023.
Địa chỉ liên hệ: C3/45A P, ấp D, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Lưu Tuấn L, Công ty L1, thuộc Đoàn luật sư thành phố H (có mặt).
3. Người kháng cáo: Bị đơn – Ông Nguyễn Văn N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các đơn khởi kiện bổ sung và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – bà Trần Thị Minh Y trình bày:
Nguyên đơn và bị đơn là ông Nguyễn Văn N tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 110/Q1/2022 ngày 29 tháng 9 năm 2022, không có con chung. Trong quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, có cố gắng giải quyết nhưng bị đơn không khắc phục và càng thể hiện những bất đồng không thể giải quyết được.
Nay, nguyên đơn xác định không còn tình cảm với bị đơn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Y yêu cầu Tòa án giải quyết cho Bà được ly hôn với ông N.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với ý kiến của bị đơn, theo Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất ngày 13 tháng 9 năm 2022, Hợp đồng mua bán căn hộ được Văn phòng C chứng nhận số công chứng 007911, quyển số 09-2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16 tháng 9 năm 2022, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 098400, số vào sổ CS01600 do sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 23 tháng 7 năm 2020, cập nhật thay đổi chủ sở hữu cho nguyên đơn ngày 29 tháng 9 năm 2022 và Văn bản cam kết tài sản riêng vợ chồng được Văn phòng C chứng nhận số công chứng 008417, quyển số 10/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04 tháng 10 năm 2022 thì Căn hộ 301, Tầng D Lô D, chung cư A, đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản riêng của nguyên đơn, không liên quan gì đến bị đơn. Số tiền 670.000.000 đồng mà bị đơn khai góp phần mua nhà là chi phí chung sống trong quá trình hôn nhân (chụp hình cưới, mua sắm quần áo, trang thiết bị tiện nghi trong nhà, ăn uống, du lịch, sinh hoạt phí...), không phải vay mượn. Nếu bị đơn chuyển đổi thành chi phí để có thể đồng ý ly hôn thì nguyên đơn đồng ý hoàn trả 550.000.000 đồng theo vụ việc dân sự cá nhân, đề nghị Tòa án xem xét và tách bạch vụ việc để không làm ảnh hưởng vụ việc ly hôn.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông thống nhất với lời trình bày của bà Y về thời điểm hai bên xác lập quan hệ vợ chồng. Ông không đồng ý ly hôn vì bà Y đã lừa lấy hết tiền của Ông là 670.000.000 đồng đã góp vào thanh toán tiền mua Căn hộ
301, Tầng D Lô D, chung cư A, đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông N chỉ đồng ý ly hôn khi bà Y hoàn trả lại 550.000.000 đồng vì đó là tất cả số tiền mà ông đã mượn và đợ đất ở quê, còn số tiền còn lại ông N cho bà Y, không đòi.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông N xác nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 098400, số vào sổ CS01600 do sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 23 tháng 7 năm 2020, cập nhật thay đổi chủ sở hữu cho bà Y ngày 29 tháng 9 năm 2022, đúng ngày được cấp giấy chứng nhận kết hôn.
Về nợ chung: Ông Nhiệm mong Tòa án xem xét và giúp ông yêu cầu bà Y hoàn trả lại cho ông 670.000.000 đồng trong vòng 15 ngày kể từ ngày có quyết định ly hôn của Tòa án để ông có tiền mang về quê trả cho ngân hàng để chuộc lại phần đất đã thế chấp để vay số tiền trên.
Số tiền này ông N đã đưa cho bà Y nhiều lần như sau:
- - Chuyển khoản 120.000.000 đồng từ tài khoản V số 0281000318629 tới tài khoản A số [...] ngày 29 tháng 8 năm 2022, ngày 30 tháng 8 năm 2022, ngày 31 tháng 8 năm 2022.
- - Đưa tiền mặt 150.000.000 đồng (bị đơn vay ba má và dì Sáu của ông N), Ô đi xe về quê lấy và giao cho bà Y ngày 25 tháng 8 năm 2022.
- - Đưa tiền mặt 400.000.000 đồng (tiền đợ thế chấp đất cho chị gái nhờ vay giúp) cho nguyên đơn ngày 29 tháng 9 năm 2022
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 441/2023/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 1 quyết định:
“1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Minh Y
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Minh Y được ly hôn với ông Nguyễn Văn N.
Về con chung: Hai bên khai không có.
Về tài sản chung: Hai bên khai không có.
Về nợ chung: Không có.”
Ngoài ra, Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm còn quyết định về án phí sơ thẩm, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 25/8/2023, ông Nguyễn Văn N có đơn kháng cáo đối với Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 441/2023/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, kháng cáo toàn bộ nội dung Bản án sơ thẩm, yêu cầu hủy bản án sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không khách quan, bỏ qua nhiều chứng cứ, không đảm bảo quyền lợi cho bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện theo ủy quyền của ông N trình bày: Ông yêu cầu cấp sơ thẩm ghi nhận buộc bà Trần Thị Minh Y trả lại số tiền 550.000.000₫ mà ông N đã đưa cho bà Y trước khi 2 người kết hôn. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.
Nguyên đơn trình bày: Vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông N trình bày: Về quan hệ hôn nhân do ông N vắng mặt lần thứ 2 nên đình chỉ kháng cáo. Về phần tải sản chung, nợ chung: không có, cấp sơ thẩm ghi nhận là đúng, tuy nhiên tại cấp sơ thẩm bà Y cũng đồng ý trả lại cho ông N số tiền là 550.000.000đ. nên đề nghị cấp phúc thẩm ghi nhận buộc bà Y phải trả số tiền trên trong cùng 1 bản án ly hôn.
Kiểm sát viên phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Ông N vắng mặt lần 2 tại phiên tòa phúc thẩm nên đề nghị đình chỉ đối với kháng cáo về quan hệ hôn nhân. Đối với yêu cầu bà Y hoàn trả số tiền 550.000.000đ mà ông N đã đưa thì do tại cấp sơ thẩm ông N chưa có đơn yêu cầu, vẫn chưa được cấp sơ thẩm xem xét thụ lý, nên đề nghị cấp phúc thẩm không xét, không chấp nhận kháng cáo của ông N, đề nghị giữ nguyên ản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn N còn trong thời hạn luật định nên được chấp nhận.
[2] Về nội dung: Theo đơn kháng cáo, ông N kháng cáo toàn bộ bản án, HĐXX xét thấy :
Về quan hệ hôn nhân : Ông Nguyễn Văn N kháng cáo nhưng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt thì coi như từ bỏ việc kháng cáo. Căn cứ Điều 289, Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đình chỉ xét xử phúc thẩm.
Về con chung và tài sản chung, nợ chung: Các đương sự thống nhất trình bày không có con chung và tài sản chung nên không có yêu cầu giải quyết, Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết về con chung, tài sản chung là có căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền, cũng như người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông N yêu cầu Tòa tuyên buộc bà Y trả số tiền 550.000.000₫ mà ông N đã đưa cho bà Y trước khi 2 người chung sống với nhau vì tại phiên tòa sơ thẩm bà Y cũng đồng ý hoàn trả số tiền 550.000.000đ cho ông
N. Tòa cấp phúc thẩm xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, ông N không nộp đơn yêu cầu phản tố, cũng như không đóng án phí đối với yêu cầu này nên Tòa án cấp sơ thẩm chưa thụ lý để xem xét giải quyết là có căn cứ. Nhằm đảm bảo 2 cấp xét xử nên tại phiên tòa phúc thẩm sẽ không xem xét yêu cầu này của ông N, dành quyền khởi kiện đòi 550.000.000₫ bằng 1 vụ kiện dân sự khác nếu sau này ông N có yêu cầu.
Xét đề nghị sửa bản án sơ thẩm của đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền và lợi ích của ông N là không có cơ sở như đã phân tích ở trên.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát không chấp nhận kháng cáo của ông N là có cơ sở nên chấp nhận, bác toàn bộ kháng cáo của ông N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo nên người kháng cáo là ông Nguyễn Văn N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 148; Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 441/2023/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 1:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Minh Y về việc được ly hôn ông Nguyễn Văn N.
- - Về con chung: Các đương sự xác nhận không có.
- - Về tài sản chung: Các đương sự xác nhận không có.
- - Về nợ chung: Các đương sự xác nhận không có.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Trần Thị Minh Y phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2023/0043420 ngày 27/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Nguyễn Văn N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2023/0044047 ngày 05/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Trang |
Bản án số 70/2024/HNGĐ-PT ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 70/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
