Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ GIÁ RAI

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2024/HS-ST

Ngày 12 – 12 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI, TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Trung

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Sứ

Bà Cao Thị Mỹ Phượng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trần Công Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Mộng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Trung T, sinh ngày 09/03/2004, tại Bạc Liêu; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1981; anh, chị, em ruột: 05 người, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị khởi tố ngày 17/5/2024, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/5/2024 đến ngày 01/7/2024 và chuyển sang tạm giam từ ngày 01/7/2024 đến nay (có mặt).

- Bị hại:

  • + Ông Trương Văn H, sinh năm 1975. Địa chỉ: Ấp B, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).
  • + Anh Nguyễn Nhật H1, sinh năm 2003. Địa chỉ: Khóm A, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Châu Thị X, sinh năm 1968. Địa chỉ: Ấp G, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 18 giờ, ngày 13/01/2024, ông Trương Văn H, điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha, màu đen đỏ, loại Sirius, mang biển kiểm soát 94D1 – 053.11 đến nhà ông Lý T2 thuộc ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu để thăm vuông tôm. Khi đến nơi, ông H đậu xe phía trước nhà ông Lý T2 chìa khóa vẫn cắm vào ổ khoá xe. Lúc này, ông T2 có tổ chức uống rượu với bị cáo cùng ông Nguyễn Hữu T3, ông T4 (chưa xác định được nhân thân) nên ông H đến ngồi trên chiếc võng trước hàng ba nhà ông T2. Trong lúc uống rượu, bị cáo nhìn thấy xe ông H nảy sinh ý định chiếm đoạt, bị cáo đến chỗ ông H hỏi mượn xe, nhưng ông H không cho, bị cáo đến vị trí xe đang đậu, lên xe nổ máy điều khiển xe bỏ chạy để chiếm đoạt, ông H đứng lên chân bị vướng chiếc võng không chạy ra kịp, sự việc được ông H trình báo Công an xã P.

Tại kết luận định giá tài sản số 07 ngày 31/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu đen đỏ, loại xe Sirius, dung tích 110, mang biển kiểm soát 94D1 – 053.11 đăng ký lần đầu ngày 08/01/2012. Tại thời điểm yêu cầu định giá tài sản trên có giá là 2.500.000 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 18 giờ, ngày 02/05/2024, bị cáo uống rượu cùng Nguyễn Văn C tại Quán 39 thuộc Khóm A, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo gọi điện rủ Nguyễn Nhật H1 đến cùng uống rượu, được H1 đồng ý. Khi thấy H1 đến có điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Wave, màu xám trắng, mang biển kiểm soát 94AE – 096.42 đến và đậu trước quán, bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của anh H1 để sử dụng. Trong lúc uống rượu, bị cáo nói dối H1 mượn xe đi mua thuốc lá, anh H1 tin là thật nên giao xe cho bị cáo mượn. Sau khi nhận được xe, bị cáo điều khiển đến thành phố T, tỉnh Bình Dương để sử dụng và bán cho Đặng Hoàng H2 với giá 2.500.000 đồng, tiền mua xe là của bà Châu Thị X mẹ của H2. Đến ngày 19/7/2024, bà X biết được xe bị cáo chiếm đoạt của anh H1, nên tự nguyện mang xe đến giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã G.

Tại kết luận định giá tài sản số 49 ngày 02/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu xám trắng, mang biển kiểm soát 94AE – 096.42. Tại thời điểm yêu cầu định giá tài sản trên có giá là 18.624.000 đồng.

Quá trình điều tra, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.

Tại bản Cáo trạng số: 65/CT-VKS-HS ngày 18/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu truy tố bị cáo Trần Trung T về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo khoản 1 Điều 172 và khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Trung T phạm tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 172; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Trung T từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Trung T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/7/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu về trách nhiệm dân sự, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt, Hội đồng xét xử xét thấy các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự, sự vắng mặt của các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không trở ngại gì cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án:

[3.1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra; phù hợp Biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá và phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 18 giờ ngày 13/01/2024 tại ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu bị cáo công nhiên chiếm đoạt xe mô tô, hiệu Yamaha, màu đen đỏ, loại Sirius, mang biển kiểm soát 94D1 – 053.11 của ông Trương Văn H, kết luận định giá tài sản bị chiếm đoạt trị giá 2.500.000 đồng và khoảng 18 giờ ngày 02/05/2024, bị cáo có hành vi gian dối mượn xe mô tô hiệu Wave, màu xám trắng, mang biển kiểm soát 94AE – 096.42 của Nguyễn Nhật H1 đi mua thuốc lá, sau đó chiếm đoạt và bỏ trốn, kết luận định giá tài sản bị chiếm đoạt trị giá 18.624.000 đồng. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Với hành vi nêu trên, bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai truy tố về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo khoản 1 Điều 172 và theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

[3.2] Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ. Bị cáo không có việc làm, muốn có tài sản để sử dụng và tiền tiêu xài cá nhân, nhưng bản thân lười lao động, nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương; do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm giáo dục, răn đe và cải tạo ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo và để phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; do đó sẽ được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không yêu cầu về trách nhiệm dân sự, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[6] Đối với bà Châu Thị X đưa tiền cho Đặng Hoàng H2 mua xe mô tô hiệu Wave, màu xám trắng, mang biển kiểm soát 94AE – 096.42, bà X không biết xe do bị cáo chiếm đoạt của Nguyễn Nhật H1, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

[7] Như đã phân tích nêu trên, có căn cứ chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Trung T phạm tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 172; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Trung T 06 (sáu) tháng tù về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Trung T 01 (một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/7/2024.

Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Trung T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; những người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND tỉnh Bạc Liêu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND thị xã Giá Rai;
  • - Công an thị xã Giá Rai;
  • - Chi cục THADS thị xã Giá Rai;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quốc Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI, TỈNH BẠC LIÊU về hình sự: công nhiên chiếm đoạt tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 70/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Công nhiên chiếm đoạt tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Trung T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger