Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÃNG

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2024/HS-ST

Ngày 12-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Triệu Thị Máy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Nguyễn Thị Lợi;
  • Bà Lương Thị Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Triệu Tuấn Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lộc Nam Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Trịnh Văn T, sinh ngày 23 tháng 12 năm 1975, tại huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Nơi thường trú: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Quang T1 và bà Nguyễn Thị T2; có vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1977; có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Theo quyết định số 00796 ngày 22/3/2005 bị Công an tỉnh L xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền về hành vi Buôn bán hàng Trung Quốc nhập lậu (đã được xóa); theo bản án số 09/2007/HSST ngày 26/6/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo và phạt tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng về tội: Đánh bạc; theo bản án số 73/2018/HS-ST ngày 18/9/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, xử phạt 02 năm tù cho hưởng án treo về tội: Vận chuyển hàng cấm (đã được xóa án tích). Bị cáo bị tạm giữ ngày 04/6/2024, tạm giam ngày 07/6/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn đến nay. Có mặt.

- Người chứng kiến: Anh Hoàng Ngọc T3, sinh năm 1998. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 04/6/2024, tổ công tác Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn, phối hợp với Công an xã T đang làm nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự, tại khu vực thôn K, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, phát hiện một người đàn ông đang đi bộ vào khu vực B có biểu hiện phạm tội về ma tuý. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, người đàn ông chấp hành và khai nhận họ tên Trịnh Văn T. Qua kiểm tra, Trịnh Văn T tự giác lấy từ trong lòng bàn tay phải ra 01 (một) gói giấy màu trắng (loại giấy vệ sinh), bên trong có 05 (năm) gói giấy kẻ dòng màu trắng, bên trong tất cả các gói giấy đều chứa chất bột màu trắng, nghi là chất ma túy H1, giao nộp cho tổ công tác và khai nhận chất bột màu trắng trong các gói giấy là ma tuý mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã đưa Trịnh Văn T cùng tang vật về trụ sở Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 09 giờ 00 phút ngày 04/6/2024.

Tài liệu, đồ vật thu giữ, tạm giữ gồm: 01 (một) gói giấy màu trắng (loại giấy vệ sinh), bên trong có 05 (năm) gói giấy kẻ dòng màu trắng, bên trong tất cả các gói giấy đều chứa chất bột màu trắng, nghi là chất ma túy Heroin, được niêm phong trong 01 phong bì thư ghi chữ (QT Trịnh Văn T).

Tại Kết luận giám định số 648/KL-KTHS ngày 06/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Chất bột màu trắng trong 05 (năm) gói giấy màu trắng có kẻ dòng gửi giám định đều là chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng 0,192 gam (đã trừ bì).

Tại Cơ quan điều tra, Trịnh Văn T khai nhận: Bản thân sử dụng chất ma túy Heroin từ năm 2020, do đó khoảng 07 giờ 30 phút ngày 04/6/2024, Trịnh Văn T một mình đi bộ từ thôn K, xã T đến khu vực cổng bãi đỗ xe B thuộc thôn N, xã T, huyện V, thì gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết tên, tuổi, địa chỉ) đeo khẩu trang, đi xe máy đến hỏi “có nhu cầu gì không”. Trịnh Văn T trả lời muốn mua 500.000 (năm trăm nghìn) đồng ma túy, người đàn ông nhận tiền rồi điều khiển xe đi ra theo hướng xã T, huyện V, được khoảng 20 phút sau quay lại đưa cho Trịnh Văn T 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong có 05 (năm) gói giấy màu trắng kẻ dòng chứa ma túy, Trịnh Văn T cầm 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong có 05 (năm) gói giấy màu trắng kẻ dòng chứa ma túy trong lòng bàn tay phải, đi bộ đến khu vực xóm T thuộc thông khu A, xã T, huyện V, thì bị Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Tại bản Cáo trạng số 72/CT-VKS ngày 19/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Trịnh Văn T ra trước Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn để xét xử bị cáo Trịnh Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, như Cáo trạng

đã nêu. Bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, tỏ ra ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 50, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Văn T mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu, tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định và các vỏ bao gói cũ. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Trịnh Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

[3] Từ những phân tích trên có đủ cơ sở xác định như sau: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 04/6/2024, tổ công tác Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn đang làm nhiệm vụ tại khu vực thôn K, xã T, huyện V, kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ của Trịnh Văn T 01 (một) gói giấy màu trắng (loại giấy vệ sinh), bên trong có 05 (năm) gói giấy kẻ dòng màu trắng, bên trong tất cả các gói giấy đều chứa chất bột màu trắng. Qua giám định số ma túy thu giữ có khối lượng 0,192 gam (đã trừ bì), bị cáo Trịnh Văn T mua nhằm mục đích để sử dụng.

[4] Do đó có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trịnh Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố đối với bị cáo Trịnh Văn T là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định

của pháp luật.

[5] Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa giáo dục chung. Tuy vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét đánh giá về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[6] Về nhân thân của bị cáo, theo quyết định số 00796 ngày 22/3/2005 bị Công an tỉnh L xử phạt vi phạt hành chính phạt tiền về hành vi Buôn bán hàng Trung Quốc nhập lậu (đã được xóa); theo bản án số 09/2007/HSST ngày 26/6/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo và phạt tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng về tội: Đánh bạc; theo bản án số 73/2018/HS-ST ngày 18/9/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, xử phạt 02 năm tù cho hưởng án treo về tội: Vận chuyển hàng cấm (đã được xóa án tích). Tuy đã được xóa án tích, nhưng bị cáo không phải là người có nhân thân tốt. Về tình tiết tăng nặng: Không có. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố, mẹ đều có huân chương kháng chiến hạng ba, bố là thương binh hạng 2/8 và mẹ có huy chương vì sự nghiệp giáo dục, là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào kết quả xác minh có trong hồ sơ vụ án cho thấy bị cáo không đứng tên tài sản gì. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Đối với người đàn ông khoảng 40 tuổi bán ma túy cho bị cáo tại khu vực cổng bãi xe Bảo Nguyên thuộc thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo không biết họ tên, địa chỉ của người đàn ông trên, nên cơ quan điều tra không tiến hành xác minh làm rõ được.

[9] Về vật chứng của vụ án: Đối với số ma túy hoàn lại sau giám định, là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, tịch thu, tiêu hủy.

[10] Ý kiến Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị mức án, xử lý vật chứng là phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[11] Về án phí: Bị cáo bị kết án, nên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  2. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trịnh Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 04/6/2024.
  3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
  4. Về xử lý vật chứng:

    Tịch thu, tiêu hủy: Số ma túy hoàn lại sau giám định, niêm phong trong 01 (một) phong ghi chữ “QT Trịnh Văn T” cũ, có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T4, trợ lý giám định và các hình dấu của phòng K tại các phần giáp lai mới, bên trong có 01 (một) gói giấy đựng 0,163 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và các vỏ bao gói (cũ).

    (Vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/8/2024).

  5. Về án phí: Buộc bị cáo Trịnh Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Văn Lãng;
  • - CQ điều tra Công an huyện Văn Lãng;
  • - Nhà tạm giữ Công an h. Văn Lãng;
  • - Bị cáo;
  • - Chi cục THADS h. Văn Lãng, t. Lạng Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu VP- hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Triệu Thị Máy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 70/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger