TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 70/2024/HS-PT Ngày 12-8-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Quản
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Thái, ông Nguyễn Lê Phương
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 63/2024/TLPT-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo Nguyễn Văn T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.
- Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Văn T, sinh năm 1963 tại tỉnh Bình Thuận. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nơi ở hiện nay: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N và bà Lê Thị M; Có vợ tên Trần Thị T1 (không có đăng ký kết hôn) và 03 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Bà Trần Thị N1, sinh năm 1973 (vắng mặt).
- Người làm chứng:
- Bà Trần Thị T1, sinh năm 1982 (có mặt).
- Bà Trần Thị Thanh D, sinh năm 1988 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo bản án sơ thẩm:
Khoảng 11 giờ ngày 25/9/2023, Nguyễn Văn T cùng vợ là bà Trần Thị T1 đang dọn cơm ra bàn ở nhà chuẩn bị ăn thì có chị Trần Thị Thanh D (là cháu của bà T1) đến chơi, ngồi tại bàn ăn nói chuyện. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, Trần Thị N1 (là chị ruột của bà T1) mang thùng nhựa qua nhà bà T1 xách nước về uống. Trong lúc N1 xách nước đi ngang qua bàn ăn của vợ chồng T thì bà T1 nói với N1: “chị có ra nhà bà T2 chị kêu bà T2 cứ kiện ra Toà lấy nhà của tôi đi, nếu thắng thì thôi, nếu thua thì tôi bán một con bò cho mượn tiền nộp án phí”, N1 nói: “đừng nói vậy”, bà T1 nói tiếp: “chị làm như vậy không sợ anh rể và em rể cười chị hay sao”, N1 trả lời: “thằng chồng mày nó có quyền hành gì trong nhà này mà cười với không cười”, bà T1 trả lời: “sao lại không có quyền hạn, ổng lấy tui đẻ con tui ra sao không có quyền mà chị nói vậy”, N1 nói: “nó không có quyền gì trong đây mày nói vậy cho nó bắc thang leo lên”. Nghe N1 nói vậy, T nói: “chị là người ăn nhờ ở đậu mà qua đây chửi bới um sùm”, N1 nói: “lần này mày nói tao ăn nhờ ở đậu là lần thứ hai rồi nha”, đồng thời N1 lấy chai rượu của T đang để trên bàn ném xuống đất. T đứng dậy bước đến đống cây cách bàn ăn khoảng 01 mét, lấy 01 tấm ván bằng gỗ màu nâu, có chiều dài 01 mét, chiều ngang một đầu 13cm, chiều ngang đầu còn lại 10cm đánh vào người và tay trái của N1 gây thương tích nhẹ. Thấy N1 bị T đánh, chị D và bà T1 đến ôm, can ngăn thì T thả tấm ván gỗ xuống đất. Do bị đánh nên N1 lấy nồi cơm ném về phía T nhưng không trúng, N1 tiếp tục nhặt 01 đoạn cây tre, có chiều dài 1,44 mét, đường kính một đầu 1,1cm và đầu còn lại 0,9cm đánh vào mí mắt trái gần bên trái đầu và tay phải của T gây thương tích, T la lên: “em thả anh ra, em ôm để cho chị em đánh anh chết hay sao”. Lúc này, T vùng mạnh bung khỏi sự ngăn cản của bà T1. T tiếp tục nhặt miếng ván gỗ lúc đầu, đánh mạnh vào cổ tay phải của N1 gây thương tích, N1 la lớn: “Hinh ơi tao gãy tay rồi”, N1 đòi vào nhà của bà T1 nhưng bà T1 không cho và đẩy N1 đi về. Sau đó, T và N1 đến Trung tâm y tế huyện H khám và điều trị thương tích.
Ngày 02/01/2024, Nguyễn Văn T có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với Trần Thị N1 vì đã dùng cây đánh vào người của T gây thương tích.
Ngày 27/3/2024, Nguyễn Văn T đã có đơn bãi nại và rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với Trần Thị N1.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 19/KLTTCT-TTPYBT ngày 15/11/2023 của Trung tâm giám định y khoa - pháp y tỉnh B kết luận về thương tích của Trần Thị N1 như sau:
- Chấn thương vùng cổ tay phải gãy kín đầu dưới xương quay phải đã được điều trị, hiện còn sưng đau, biến dạng cổ tay phải, hạn chế vận động cổ tay phải. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11%.
- Đa vết sưng nề vai trái, cẳng tay trái, cổ tay trái, lòng bàn tay trái hiện không còn dấu vết. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Trần Thị N1 tại thời điểm giám định là 11%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Chấn thương do vật tày gây ra.
- Chấn thương có chiều hướng lực tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 69/KLTTCT-TTPYBT ngày 29/11/2023 của Trung tâm giám định y khoa - pháp y tỉnh B kết luận về thương tích của Nguyễn Văn T như sau:
- Vết xước da vùng mi trên - cung mày mắt trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo kích thước (1 x 0,1)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 3%.
- Vết xước da 1/3 dưới cẳng tay phải đã được điều trị, hiện để lại sẹo kích thước (4 x 0,1)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1%.
- Sưng nề vùng thái dương đã được điều trị hiện không còn dấu vết. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T tại thời điểm giám định là 4%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Các vết xước da do vật tày gây ra.
- Vết xước da vùng mi trên - cung mày mắt trái có chiều hướng lực tác động từ trước ra sau; Vết xước da cẳng tay phải có chiều hướng lực tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương.
Vật chứng thu giữ và xử lý:
- 01 tấm ván bằng gỗ, màu nâu đã qua sử dụng nhiều năm, có chiều dài 01 mét, có chiều ngang một đầu 13cm, chiều ngang đầu còn lại 10cm.
- 01 cây tre bằng gỗ màu nâu nhạt, đã qua sử dụng nhiều năm, hai đầu cây tre đặc ruột, cây tre có chiều dài 1,44 mét, đường kính 01 đầu 1,1cm và đầu còn lại 0,9cm.
Toàn bộ số vật chứng trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc chuyển từ Cơ quan CSĐT - Công an huyện H đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc bảo quản, chờ xử lý.
Về dân sự: Nguyễn Văn T và Trần Thị N1 không có yêu cầu bồi thường và đều có đơn bãi nại.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã quyết định:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Nguyễn Văn T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 06/6/2024, bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo: Kháng cáo xin hưởng án treo.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 15 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 25/9/2023, tại nhà của bà Trần Thị T1 thuộc thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận, giữa bà Trần Thị N1 và bị cáo Nguyễn Văn T xảy ra mâu thuẫn cãi vã dẫn đến xô xát, Trần Thị N1 đã có hành vi dùng 01 đoạn cây tre đánh vào mí mắt trái, đầu và tay của T gây thương tích 4%, Nguyễn Văn T đã dùng 01 tấm ván gỗ (là hung khí nguy hiểm) đánh vào cổ tay phải của bà Trần Thị N1 gây thương tích 11%.
[2] Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm s, x khoản 1 Điều 51 (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là con liệt sỹ) và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự (được bị hại bãi nại, được Ủy ban nhân dân xã H tặng Giấy khen vì đã đạt được thành tích trong phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, có mẹ là người có công với cách mạng, được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất), bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào. Xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo thấy rằng bị cáo đã trên 60 tuổi, có nơi cư trú rõ ràng, giữa bị cáo và bị hại có mối quan hệ gia đình (bị hại là chị vợ của bị cáo), trong vụ án này bị hại cũng có phần lỗi, giữa bị cáo và bị hại đã có sự hòa giải, bị cáo T đã rút yêu cầu khởi tố vụ án về hành vi bị hại gây thương tích cho bị cáo, bị hại đã bãi nại cho bị cáo. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của bị cáo nêu trên, xét thấy bị cáo có đủ các điều kiện để hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 được sửa đổi, bổ sung tại Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo.
[4] Về án phí:
Đối với án phí hình sự sơ thẩm: Do bị cáo là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Đối với án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.
Căn cứ vào điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (12/8/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận là nơi bị cáo đang cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí: căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 và điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn T được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm và không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (12/8/2024).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quản |
Bản án số 70/2024/HS-PT ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 70/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T phạm tội cố ý gây thương tích
