|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 70/2024/HS-ST Ngày: 12/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Ông Phạm Xuân Diễn.
Các Hội thẩm nhân dân :
- Ông Phạm Thu Hà ;
- Ông Vũ Khắc Hoàn.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Phương Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên tham gia phiên tòa: bà Vũ Thị Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 42/2024/TLST-HS, ngày 16 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST- HS, ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, đối với bị cáo :
Lê Văn T (giới tính: nam), sinh ngày: 16/9/1992 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: xóm M, xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; trình độ văn hóa: lớp 09/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Lê Văn H và bà Ngô Thị H1, bị cáo có vợ là Vũ Thị H2 và có 01 con, sinh năm 2016.
Tiền án: ngày 02/03/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An xử phạt 3 năm 09 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Ngày 29/11/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản” và “Cướp giật tài sản”, ngày 29/7/2023 chấp hành xong bản án.
Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2024; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
+ Chị Đinh Thủy N, sinh năm 2005; địa chỉ: thôn B, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa (chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
+ Chị Nguyễn Minh T1, sinh năm 1990; địa chỉ: thôn C, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa (chị T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
+ Chị Đặng Thị Hồng T2, sinh năm 1984; địa chỉ: thôn C, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Bùi Văn T3, sinh năm 2000, địa chỉ: thôn D, xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An, vắng mặt tại phiên tòa.
+ Anh Đào Đức H3, sinh năm 1987, địa chỉ: khu I, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa (anh H3 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1984; địa chỉ: khu H, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
+ Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1967; địa chỉ: khu C, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 10/01/2024, Lê Văn T điều khiển xe mô nhãn hiệu Honda Wave @, màu xanh – đen – bạc, biển kiểm soát 37F1-971.15 đi qua quán nước của chị Đinh Thủy N (sinh năm 2005) tại số nhà B, đường N, khu H, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, thấy cửa mở nên T dừng xe bên ngoài nhưng không tắt máy rồi đi vào trong quán. Quan sát thấy nhà không có ai trông coi nên T lén lút trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, dung lượng 64Gb, màu trắng để trên kệ gỗ quầy bán nước rồi đi ra ngoài thì chị N phát hiện, tri hô “trộm, trộm” và đuổi theo. T nhanh chóng chạy đến xe mô tô và ngồi lên xe nhưng bị chị N cùng các ông Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn T4 đứng gần đó bắt giữ và đưa đến Công an phường Q, thị xã Q.
Tại Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐG, ngày 15/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Q xác định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, dung lượng 64Gb, màu trắng, đã qua sử dụng trị giá 4.000.000đ (bốn triệu đồng).
Tại cơ quan điều tra, T4 thừa nhận hành vi phạm tội của mình như trên. Ngoài ra, còn khai trước đó T4 đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể:
Lần thứ nhất: sáng ngày 31/12/2023, T4 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37F1-971.15 đi xung quanh khu C, xã T, thị xã Q xem nhà ai có sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khoảng 09 giờ 40 phút, khi đi qua cửa hàng quần áo của chị Nguyễn Minh T1 (sinh năm 1990), T4 phát hiện cửa sau không khóa, trong nhà không có ai nên dựng xe bên ngoài cổng rồi lén lút đột nhập vào nhà thông qua cửa sau và trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đỏ để trên tủ bếp. Tiếp đó, T4 mang điện thoại đến cửa hàng H4 tại khu I, phường Q, thị xã Q gặp anh Đào Đức Hùng nói điện thoại của mình nhưng lâu không dùng nên không nhớ mật khẩu và muốn bán. Anh H3 đồng ý và mua với giá 500.000 đồng. Sau đó, anh H3 nghi ngờ chiếc điện thoại T4 bán là tài sản trộm cắp nên đăng trên mạng xã hội tìm chủ sở hữu. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, chị Nguyễn Minh T1 đến nhận lại điện thoại, anh H3 cũng không lấy tiền của chị T1.
Tại Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐG, ngày 13/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Q, xác định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, dung lượng 64Gb, màu đỏ, đã qua sử dụng trị giá 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng).
Lần thứ hai: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 06/01/2024, T4 đi bộ đến cửa hàng bán thuốc của chị Đặng Thị Hồng T2 (sinh năm 1984) thuộc khu C, xã T, thị xã Q mua thuốc thì phát hiện 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno8 T, màu vàng cam đang được sạc trên bàn nên nảy sinh ý định trộm cắp. Sau khi bán thuốc cho T4 xong, chị T2 đi ra phía trước cửa hàng, thấy vậy T4 lẻn vào phía bên trong quầy thuốc bằng lối cửa phụ lấy trộm chiếc điện thoại trên. Sau đó T4 đi xe khách đến Hà Nội bán chiếc điện thoại trên với giá 800.000 đồng tại một cửa hàng mua bán điện thoại (không nhớ địa chỉ cụ thể).
Tại Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐG, ngày 17/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Q, xác định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno8 T, màu vàng cam, đã qua sử dụng trị giá 7.125.000 đồng (Bảy triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Do chị Nguyễn Minh T1 đã lấy lại được điện thoại và chị Đặng Thị Hồng T2 đăng tin tìm điện thoại trên mạng xã hội không thấy nên ngày 11/01/2024, chị T1 và chị T2 mới đến Công an xã T, thị xã Q trình báo sự việc.
Cơ quan điều tra đã tiến hành trích xuất hình ảnh camera ghi nhận: vào hồi 06 giờ 29 phút ngày 10/01/2024, chị Đinh Thủy N đuổi bắt Lê Văn T phía trước cửa số nhà B, đường N, khu H, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh
Về vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại chị Đinh Thủy N; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 pro, màu xanh thu giữ của Lê Văn T chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên để xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave @, màu xanh – đen – bạc, BKS 37F1-971.15 do bị cáo T mượn của anh Bùi Văn T3, quá trình điều tra xác định anh T3 không biết T sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Đinh Thủy N, chị Nguyễn Minh T1 và anh Đào Đức Hùng không yêu cầu, đề nghị gì. Chị Đinh Thị Hồng T5 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 6.000.000 đồng, bị cáo T chưa thực hiện.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn T đã thừa nhận toàn bộ nội dung sự việc như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 305/CT-VKSQY, ngày 15/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, đã truy tố bị cáo Lê Văn T, về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn T khai nhận như sau: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên sáng ngày 10/01/2024, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave @, biển kiểm soát 37F1-971.15 đi qua quán nước của chị Đinh Thủy N tại số nhà B, đường N, khu H, phường Q, thị xã Q, T quan sát thấy nhà không có ai nên vào trong nhà trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng thì chị N phát hiện, T cầm điện thoại bỏ chạy nhưng bị chị N cùng mọi người bắt giữ giao cho công an thị xã Q, sau khi bị bắt giữ T đã tự khai hai lần trộm cắp trước đó là lần thứ nhất sáng ngày 31/12/2023, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37F1-971.15 đi qua cửa hàng quần áo của chị Nguyễn Minh T1, phát hiện trong nhà không có ai nên T đi qua cửa sau trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đỏ sau đó bán cho anh H3 tại khu I, phường Q, thị xã Q với giá 500.000 đồng. Lần thứ hai: sáng ngày 06/01/2024, T đi bộ đến cửa hàng bán thuốc của chị Đặng Thị Hồng T2 thuộc khu C, xã T, thị xã Q trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno8 T, màu vàng cam của chị T2, sau đó T đi xe khách đến Hà Nội bán với giá 800.000 đồng cho một cửa hàng mua bán điện thoại (không nhớ địa chỉ cụ thể).
Các bị hại, gồm: chị Nguyễn Minh T1 có lời khai xác nhận ngày 31/12/2023 chị bị T lẻn vào nhà trộm cắp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, và bán cho anh H3 là chủ cửa hàng điện thoại, tuy nhiên anh H3 đã trả lại điện thoại cho chị sau khi biết đó là tài sản do trộm cắp mà có và không lấy tiền chị; chị Đặng Thị Hồng T2 xác nhận sáng ngày 06/01/2024 chị bị T trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno8 T, màu vàng cam, chị yêu cầu T bồi thường giá trị chiếc điện thoại định giá là 7.125.000đồng; chị Đinh Thủy N có lời khai khẳng định sáng ngày 10/01/2024 chị phát hiện T điều khiển xe mô nhãn hiệu Honda Wave @, biển kiểm soát 37F1-971.15 sau đó dựng xe, lẻn vào nhà trộm cắp của chị 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, chị đã cùng mọi người bắt giữ T giao cho công an xử lý.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, anh Bùi Văn T3 cùng đội bốc vác hải sản với T và là chủ sở hữu chiếc xe mô nhãn hiệu Honda Wave @, biển kiểm soát 37F1-971.15, có lời khai khẳng định các lần trộm cắp T mượn xe anh nói để đi mua đồ ăn nên anh không biết T dùng xe mô tô để đi trộm cắp điện thoại; anh Đào Đức H3 có lời khai cho rằng anh đã mua lại điện thoại di động Iphone 8 Plus từ T với giá 500.000đồng nhưng không biết do T trộm cắp mà có, sau khi biết chị T1 bị mất anh đã trả lại điện thoại cho chị T1 và không lấy lại tiền từ chị T1.
Những người làm chứng, các anh Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn V đều có lời khai xác nhận sáng ngày 10/01/2024 đã cùng với chị N bắt quả tang Lê Văn T có hành vi trộm cắp điện thoại di động của chị N, sau đó giao T cho công an xử lý.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND thị xã Quảng Yên giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng; đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm r, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS xử phạt Lê Văn T từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2024; áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS, trả lại điện thoại di động Iphone 11 Pro cho bị cáo; truy thu bị cáo 500.000đồng sung ngân sách nhà nước; quá trình điều tra chị Đặng Thị Hồng T2 yêu cầu bị cáo bồi thường 6.000.000đồng, tuy nhiên tại phiên tòa chị T2 yêu cầu bị cáo bồi thường 7.125.000đồng bằng giá trị khi định giá tài sản, áp dụng Điều 48 BLHS, Điều 584,585,586,589 BLDS buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho chị T2 7.125.000đồng.
Bị cáo thừa nhận tội danh và hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên tham gia trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự và bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, HĐXX khẳng định các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và căn cứ kết tội: tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như Bản ảnh vật chứng, Bản ảnh và biên bản xác định hiện trường, Biên bản làm việc trích xuất dữ liệu camera, Bản kết luận định giá tài sản... đã có đầy đủ cơ sở để kết luận:
Vào các ngày 31/12/2023, 06/01/2024 và 10/01/2024 trên địa bàn thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Lê Văn T có hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đỏ trị giá 1.800.000 đồng của chị Nguyễn Minh T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno8 T, màu vàng cam trị giá 7.125.000 đồng của chị Đặng Thị Hồng T2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, dung lượng 64Gb, màu trắng trị giá 4.000.000 đồng của chị Đinh Thủy N. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 12.925.000 đồng.
Cáo trạng số 305/CT-VKSQY, ngày 15/4/2024 của VKSND thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, đã truy tố bị cáo Lê Văn T là có căn cứ pháp luật.
Hành vi nêu trên của Lê Văn T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 điều 173 BLHS.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an địa phương. Bị cáo là người đã thành niên nhận thức được hành vi trộm cắp là vi phạm pháp luật, bị cáo liên tiếp có hành vi trộm cắp tài sản, thể hiện sự coi thường pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự : bị cáo T bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 52 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khi bị bắt giữ bị cáo tự khai ra hai lần trộm cắp trước đó nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS.
Mặc dù bị cáo có tình tiết giảm nhẹ nêu trên, xong khi xem xét HĐXX thấy rằng bị cáo nhiều lần bị xử phạt về hành vi chiếm đoạt tài sản thể hiện sự thiếu tu dưỡng, coi thường pháp luật, do đó HĐXX thấy cần phải áp dụng một mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Khi xem xét cần cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để vừa răn đe phòng ngừa chung vừa giáo dục đối với bị cáo và thể hiện tính nhân đạo của pháp luật nhà nước ta.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo T không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, HĐXX thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[3] Về trách nhiệm dân sự: bị hại, chị Đinh Thùy N1 và chị Nguyễn Minh T1 đều đã nhận lại điện thoại của mình và không yêu cầu gì thêm, HĐXX không đề cập; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, anh Đào Đức Hùng mua điện thoại của bị cáo nhưng không biết do phạm tội mà có và không yêu cầu T phải trả số tiền mà anh đã trả T, HĐXX không đề cập. Chị Đặng Thị Hồng T2 yêu cầu bị cáo bồi thường 7.125.000đồng, tại phiên tòa bị cáo chấp nhận bồi thường số tiền này, cần buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho chị T2 7.125.000đồng.
Đối với anh Bùi Văn T3 là người cho bị cáo mượn xe mô tô Honda Wave @, biển kiểm soát 37F1-971.15 nhưng không biết bị cáo dùng vào việc trộm cắp tài sản, cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh T3, anh T3 không yêu cầu gì thêm, HĐXX không đề cập.
[4] Về vật chứng của vụ án: chiếc điện thoại di động của chị N1 đã trả lại chị N1, chị không có đề nghị gì thêm, HĐXX không đề cập.
Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 11 Pro màu xanh thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.
Đối với số tiền bị cáo bán chiếc điện thoại di động của chị T1 được 500.000đồng cần truy thu sung ngân sách nhà nước.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s, điểm r khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Lê Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;
1. Về hình phạt :
Xử phạt: Lê Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 10/01/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự: buộc bị cáo Lê Văn T có trách nhiệm bồi thường cho chị Đặng Thị Hồng T2 số tiền 7.125.000đ (bẩy triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Lê Văn T không tự nguyện thi hành số tiền trên thì hàng tháng bị cáo Lê Văn T còn phải chịu khoản tiền lãi chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro có màu sắc và tình trạng kỹ thuật được bàn giao trong Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thị xã Q và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên ngày 16/4/2024.
Truy thu bị cáo Lê Văn T 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) sung ngân sách nhà nước
4. Về án phí và quyền kháng cáo: áp dụng khoản 2 Điều 136; khoản 1, khoản 4 Điều 331; khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, buộc bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 356.000đ (ba trăm năm sáu nghìn đồng) án phí dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo và bị hại Đặng Thị Hồng T2; vắng mặt bị hại Đinh Thủy N, Nguyễn Minh T1 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo và bị hại có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; báo cho bị hại vắng mặt tại phiên tòa và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
|
Nơi nhận : - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Sở Tư pháp tỉnh Qninh; - VKSND TX Quảng Yên; - Công an Tx Quảng Yên; - Trại tạm giam CA tỉnh Quảng Ninh; - Bị cáo, Bị hại; - Người CQLNVLQ; - Thi hành án dân sự, HS; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Xuân Diễn |
Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 70/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Tuấn trộm cắp tài sản
