Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THANH XUÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 70/2024/HS - ST

Ngày 12 tháng 4 năm 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòaBà Nguyễn Thị Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dânÔng Trần Anh Đức
Bà Hoàng Thị Hường

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đào Thị Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Vinh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2024/HSST ngày 01/4/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST – HS ngày 01/4/2024 đối với các bị cáo:

Họ và tên:

1. Trần Quốc T, giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 09/3/1989; Nơi ĐKHKTT: phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định; Chỗ ở: Không nơi ở cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Trần Văn X và con bà Nguyễn Thị S; vợ con: chưa có; Tiền án, Tiền sự: không; Tạm giữ ngày 24/12/2023, Tạm giam ngày 30/12/2023; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H. Có mặt.

2. Lê Anh N, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 31/12/1990; Nơi cư trú: A N, phường Q, quận Đ, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông Lê Anh T1 và con bà Đỗ Thúy L; vợ con: chưa có; Tiền án: - Bản án số 267 ngày 18/12/2020 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân xử phạt Lê Anh N 01 (một) năm 01 (một) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Phạm tội ngày: 13/8/2020. Nộp án phí ngày 11/1/2021; -Bản án số 86 ngày 28/4/2021 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân xử phạt Lê Anh N 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy. Nộp án phí ngày 12/7/2021. Phạm tội ngày: 16/1/2024. Chấp hành xong án phạt tù ngày 29/4/2023. Tổng hợp với bản án số 267 ngày 18/12/2020 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân Buộc bị cáo N phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 03 (ba) năm 4 (bốn) tháng tù (Chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; Tạm giữ ngày 25/12/2023; tạm giam ngày 31/12/2023; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 24/12/2023, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy công an quận T đang làm nhiệm vụ tại đường L, N, T, Hà Nội phát hiện Trần Quốc T đang đứng trước ngõ A L có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác đã yêu cầu T kiểm tra. Quá trình kiểm tra, T khai nhận trong người đang cất giấu ma túy rồi tự giác lấy từ trong túi áo khoác phía trước ngực bên trái đang mặc ra 02 (hai) túi nilon kích thước khoảng (1,5x1.5)cm bên trong mỗi túi đều chứa tinh thể màu trắng giao nộp cho Tổ công tác. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản tạm giữ, niêm phong vật chứng do T giao nộp và đưa T cùng tang vật về trụ sở công an phường N để tiếp tục làm rõ. Qua đấu tranh, Trần Quốc T khai nhận số ma túy trên mua của Lê Anh N tại 180 N, Q, Đ, Hà Nội với giá 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ lời khai của Trần Quốc T, ngày 25/12/2023 Tổ công tác Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an quận T đưa đối tượng Lê Anh N về trụ sở công an quận T để tiếp tục làm rõ, N khai nhận đã bán ma túy cho T ngày 24/12/2023.

*Thu giữ của Trần Quốc T:

  • - 02 (hai) túi nilong kích thước khoảng 1,5cm x 1,5cm bên trong đều chứa tinh thể màu trắng.
  • - 01 (một) chiếc điện thoại kiểu dáng Iphone XS màu đen, đã qua sử dụng, Imei: 357207091667741, bên trong máy có gắn sim số thuê bao 0949090389.

*Thu giữ của Lê Anh N: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 màu đen đã qua sử dụng bên trong lắp sim 0963336248; số Imeil: 350320346673781, Imei2: 350320346673138.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Anh N không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại bản Kết luận giám định số 8742/KL-KTHS ngày 31/12/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,587 gam.

Tại cơ quan điều tra, các bị can Trần Quốc T và Lê Anh N khai nhận:

Trước khi bị bắt, T và N quen biết nhau qua mạng xã hội và đã gặp nhau 02 lần. Khoảng 14 giờ ngày 24 tháng 12 năm 2023, T nhắn tin cho N qua mạng xã hội zalo có tên “FH Nam Le” để rủ N sử dụng ma túy nhưng N nói bận và không đồng ý, sau đó T bảo N mua giúp ma túy để T sử dụng, N đồng ý nhắn tin lại cho T nửa gam ma túy là 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng), T bảo N là mua giúp T 700.000 đồng nhưng N nói không bán lẻ, nên T đồng ý và bảo N chia ra thành hai túi cho T. Sau khi thống nhất với N qua tin nhắn Z, T chuyển từ tài khoản số 230001010903889 tại Ngân hàng H mang tên Trần Quốc T với số tiền 1.200.000 đồng đến số tài khoản 0963336284 ngân hàng V mang tên Lê Anh N, sau khi chuyển tiền T hẹn 30 phút sau qua nhà N tại số A N gặp N để lấy ma túy. Khi gặp, N đưa cho T 02 (hai) túi nilon trong mỗi túi đều chứa tinh thể màu trắng. Sau khi nhận được ma tuý, T cất trong túi áo trước ngực rồi đi xe ôm về phố L, phường N, T để tìm nơi sử dụng. Khi T đi đến đầu ngõ A Lê Văn thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý công an quận T phát hiện. T tự nguyện lấy từ trong túi áo đang mặc 2 gói ma tuý giao cho tổ công tác và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Lê Anh N khai nhận toàn bộ hành vi bán túy cho Trần Quốc T ngày 24/12/2023. Lời khai của N phù hợp với lời khai của T. Về nguồn gốc số ma túy, N khai mua của một người phụ nữ không quen biết với giá 1.200.000 đồng và cất giấu ở nhà tại số A N, Q, Đ, Hà Nội. Do thời gian đã lâu nên N không nhớ rõ nhân thân, lai lịch của người bán ma túy cho N nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T không có căn cứ để xác minh làm rõ.

Chiếc điện thoại kiểu dáng Iphone XS màu đen thu giữ của Trần Quốc T có sử dụng để mua túy; chiếc điện thoại kiểu dáng Iphone 14 màu đen thu giữ của Lê Anh N có sử dụng liên lạc để bán ma túy cho T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T chuyển đến cơ quan Thi hành án dân sự quận T xử lý.

Ngày 13/3/2024, khi các bị can nhận bản Kết luận điều tra vụ án và quá trình truy tố các bị can thay đổi lời khai, không thừa nhận số ma túy thu giữ của T là mua của N. Tuy nhiên căn cứ lời khai nhận tội của các bị can trong suốt quá trình điều tra, nội dung tin nhắn trong điện thoại thu giữ và các tài liệu khác có đủ cơ sở kết luận, N phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 28/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố bị cáo Trần Quốc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Lê Anh N về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo T thừa nhận việc bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bị cáo N thừa nhận việc bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo T và bị cáo N đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã nêu, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Quốc T từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2023. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Anh N từ 26 tháng đến 28 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2023. Các bị cáo không có việc làm thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

  • - 01 (một) phong bì niêm phong dán kín có dấu niêm phong của C, có chữ ký của đương sự Trần Quốc T, cán bộ Lê Vũ Đ bên trong có 02 (hai) túi nilong kích thước 1,5cm x 1,5cm đều chứa 0,554 gam ma tuý Methamphetamin (khối lượng thu giữ ban đầu là 0,587 gam, phòng PC 09 Công an thành phố H đã lấy mẫu giám định 0,033 gam) cần tịch thu tiêu huỷ;
  • - 01 (một) chiếc điện thoại kiểu dáng Iphone XS màu đen, đã qua sử dụng, I: 357207091667741, thu của bị cáo T cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước; bên trong máy có gắn sim số thuê bao 0949090389 cần tịch thu tiêu huỷ.
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 màu đen đã qua sử dụng số Imeil: 350320346673781, Imei2: 350320346673138; thu của bị cáo N cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước; bên trong lắp sim 0963336248 cần tịch thu tiêu huỷ.

Buộc bị cáo N truy nộp số tiền 1.200.000 đồng tiền thu lời bất chính.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng.

Các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo nhận tội, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật, các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa các bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng. Qua xét hỏi và tranh luận các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, phù hợp với tang vật, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 15 giờ đến 17 giờ ngày 24 tháng 12 năm 2023, tại khu vực đường N, phường Q, quận Đ, Hà Nội, Lê Anh N đã bán trái phép cho Trần Quốc T 0,587 gam ma túy loại Methamphetamine với giá 1.200.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý của Lê Anh N, Trần Quốc T đã cất giấu trong người với mục đích để sử dụng rồi đi đến khu vực đường L thuộc phường N, quận T, Hà Nội thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận T bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi của bị cáo Trần Quốc T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, hành vi của Lê Anh N đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự . Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân truy tố bị cáo T và bị cáo N để xét xử theo tội danh đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Xét thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Bản thân hai bị cáo là người trưởng thành, nhận thức rõ tác hại nhiều mặt của ma túy đến sức khỏe và đời sống của con người, các bị cáo nhận thức được hành vi mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo phòng ngừa chung cho xã hội.

[4].Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tình tiết giảm nhẹ: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo T và bị cáo N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm một phần hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo T nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng: bị cáo T không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo N có nhân thân xấu, Bản án số 267 ngày 18/12/2020 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân xử phạt Lê Anh N 01 (một) năm 01 (một) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Phạm tội ngày: 13/8/2020. Nộp án phí ngày 11/1/2021; -Bản án số 86 ngày 28/4/2021 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân xử phạt Lê Anh N 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy. Nộp án phí ngày 12/7/2021. Phạm tội ngày: 16/1/2024. Chấp hành xong án phạt tù ngày 29/4/2023. Tổng hợp với bản án số 267 ngày 18/12/2020 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân Buộc bị cáo N phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 03 (ba) năm 4 (bốn) tháng tù (Chưa được xóa án tích) nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm” là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự cần áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo N.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có thu nhập ổn định nên miễn áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo T và bị cáo N theo khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 (một) phong bì niêm phong dán kín có dấu niêm phong của C, có chữ ký của đương sự Trần Quốc T, cán bộ Lê Vũ Đ bên trong có 02 (hai) túi nilong kích thước 1,5cm x 1,5cm đều chứa 0,554 gam ma tuý Methamphetamin (khối lượng thu giữ ban đầu là 0,587 gam, phòng PC 09 Công an thành phố H đã lấy mẫu giám định 0,033 gam) cần tịch thu tiêu huỷ;
  • - 01 (một) chiếc điện thoại kiểu dáng Iphone XS màu đen, đã qua sử dụng, I: 357207091667741, thu của bị cáo T cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước; bên trong máy có gắn sim số thuê bao 0949090389 cần tịch thu tiêu huỷ.
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 màu đen đã qua sử dụng số Imeil: 350320346673781, Imei2: 350320346673138; thu của bị cáo N cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước; bên trong lắp sim 0963336248 cần tịch thu tiêu huỷ.

Buộc bị cáo Lê Anh N truy nộp 1.200.000 đồng là tiền thu lời bất chính do bán ma tuý mà có sung quỹ Nhà nước.

Về nguồn gốc số ma túy, N khai mua của một người phụ nữ không quen biết với giá 1.200.000 đồng và cất giấu ở nhà tại số A N, Q, Đ, Hà Nội. Do thời gian đã lâu nên N không nhớ rõ nhân thân, lai lịch của người bán ma túy cho N nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T không có căn cứ để xác minh làm rõ nên HĐXX không xem xét.

[8]. Về án phí: Bị cáo T và bị cáo N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[9].Về quyền kháng cáo: Bị cáo T và bị cáo N có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo Lê Anh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng:

  • - Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Quốc T.
  • - Khoản 1 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Anh N.
  • - Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự ; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • - Áp dụng: Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.
  • - Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, danh mục án phí kèm theo.

Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2023.

Bị cáo Lê Anh N 26 (hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2023

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Buộc bị cáo Lê Anh N truy nộp 1.200.000 đồng là tiền thu lời bất chính do bán ma tuý mà có sung quỹ Nhà nước.

Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy tang vật vụ án gồm: - 01 (một) phong bì niêm phong dán kín có dấu niêm phong của C, có chữ ký của đương sự Trần Quốc T, cán bộ Lê Vũ Đ bên trong có 02 (hai) túi nilong kích thước 1,5cm x 1,5cm đều chứa 0,554 gam ma tuý Methamphetamin (khối lượng thu giữ ban đầu là 0,587 gam, phòng PC 09 Công an thành phố H đã lấy mẫu giám định 0,033 gam);
  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
  • + 01 (một) chiếc điện thoại kiểu dáng Iphone XS màu đen, đã qua sử dụng, I: 357207091667741, thu của bị cáo T cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước; bên trong máy có gắn sim số thuê bao 0949090389 cần tịch thu tiêu huỷ.
  • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 màu đen đã qua sử dụng số Imei1: 350320346673781, Imei2: 350320346673138; thu của bị cáo N cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước; bên trong lắp sim 0963336248 cần tịch thu tiêu huỷ.

Hiện các vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/4/2024.

Án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo Trần Quốc T và Lê Anh N mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo Trần Quốc T và Lê Anh N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Thanh Xuân;
  • - Công an quận Thanh Xuân;
  • - Chi cục THADS quận Thanh Xuân;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS - ST ngày 12/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 70/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Quốc Thắng và Lê Anh Nam phạm tội Tàng trữ và Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger