|
TAND HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 70/2024/HS-ST Ngày 11 - 9 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Minh Tuấn
Các hội thẩm nhân dân: Ông Vàng A Măng, bà Nguyễn Thị Thu
Thư ký phiên toà: Ông Chảo Hò Sơn – Thẩm tra viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ tham gia phiên toà:
Ông Phùng Văn Chử – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở TAND huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2024/TLST - HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2022/QĐXXST-HS ngày 30/8/2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Vàng A H – Sinh năm 1980 tại huyện S, tỉnh Lai Châu; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: bản N, xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Vàng A P (đã chết); Con bà: Giàng Thị M (đã chết). Gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Phàng Thị C - sinh năm 1981, bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2005; (con thứ nhất Vàng A B, con thứ hai Vàng A T đều là bị cáo trong cùng vụ án). Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/5/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện S. Bị cáo có mặt tại phiên tòa
- Họ và tên: Vàng A B – Sinh năm 2001 tại huyện S, tỉnh Lai Châu; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: bản N, xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Vàng A H - sinh năm 1980; Con bà: Phàng Thị C – sinh năm 1981. Gia đình bị cáo có 03 anh, em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/5/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện S. Bị cáo có mặt tại phiên tòa
- Họ và tên: Vàng A T – Sinh năm 2003 tại huyện S, tỉnh Lai Châu; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: bản N, xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Vàng A H - sinh năm 1980; Con bà: Phàng Thị C – sinh năm 1981. Gia đình bị cáo có 03 anh, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ, con.Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/5/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện S. Bị cáo có mặt tại phiên tòa
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – UBND xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu, người đại diện theo pháp luật: ông Phàn A L – Chức vụ: Chủ tịch UBND xã L. Ông L vắng mặt ủy quyền cho ông Thàng Văn T1 – sinh năm 1989, chức vụ - Phó Chủ tịch UBND xã L. Địa chỉ: UBND xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu. Ông T1 có mặt tại phiên tòa.
* Những người làm chứng:
- Ông Sùng A S – sinh năm 1970 – Có mặt
Địa chỉ: Bản N, xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu.
- Ông Phàng A V – sinh năm 1989 – Có mặt
Địa chỉ: Bản N, xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu.
- Ông Giàng A D – sinh năm 1971 – Có mặt
Địa chỉ: Bản N, xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu.
- Ông Giàng A S1 – sinh năm 1985 – Có mặt
Địa chỉ: Bản N, xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu.
- Anh Vừ A S2 – sinh năm 1998 – Có mặt
Địa chỉ: Bản N, xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu.
- Ông Vàng Văn N - sinh năm 1989 – Có mặt
Địa chỉ: Bản N, xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu.
- Ông Hạng Ca D1 – sinh năm 1993 – Vắng mặt
Địa chỉ: Bản N, xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu.
- Ông Giàng A T2 – sinh năm 1990 – Có mặt
Địa chỉ: Bản N, xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu.
- Ông Phàng A V1 – sinh năm 1986 – Vắng mặt
Địa chỉ: Bản N, xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu.
- Ông Giàng A T3 – sinh năm 1992 – Có mặt
Địa chỉ: Bản N, xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu.
- Ông Sùng A V2 – sinh năm 1967 – Có mặt
Địa chỉ: Bản N, xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu.
- Anh Giàng A S3 – sinh năm 1997 – Vắng mặt
Địa chỉ: Bản N, xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu.
- Anh Lý A L1 – sinh năm 2001 – Vắng mặt
Địa chỉ: Bản L, xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu.
- Ông Lý Ka D2 – sinh năm 1978 – Vắng mặt
Địa chỉ: Bản L, xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu.
- Ông Lý A G – sinh năm 1984 – Vắng mặt
Địa chỉ: Bản L, xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu.
- Ông Thào A S4 – sinh năm 1980 – Vắng mặt
Địa chỉ: Bản X, xã H, huyện S, tỉnh Lai Châu.
- Ông Má A L2 – sinh năm 1985 – Vắng mặt
Địa chỉ: Bản X, xã H, huyện S, tỉnh Lai Châu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Khoảng đầu tháng 03/2024, với mục đích để làm nhà cho con trai Vàng A T, Vàng A H nói chuyện với Vàng A B và Vàng A T về việc H đã dùng cưa máy nhãn hiệu HUSQVARNA 365 và 01 con dao vào khu rừng phòng hộ thuộc bản N, xã L, huyện S đốn hạ 02 cây gỗ Sâng và 01 cây gỗ Giổi thuộc các Lô 1, 3, K, Tiểu khu B. Vàng A H mang theo máy cưa, dao và 01 thước rút (loại 5m) đến Lô S, K, Tiểu khu B, vị trí cây gỗ Sâng đã chặt hạ trước đó để cắt khúc, xẻ thành nhiều hộp có kích thước khác nhau, còn 02 cây đã chặt hạ tại Lô số 1 nhỏ hơn, không xẻ lấy gỗ mà dùng để làm cột nhà. Sau khi xẻ xong cây này vẫn thiếu gỗ, Vàng A H bàn với B và T tiếp tục chặt hạ thêm gỗ để xẻ, sau đó H chặt thêm 02 cây gỗ Sâng tại vị trí Lô E, Khoảng 8, Tiểu khu B của khu rừng này, cắt khúc và xẻ lấy gỗ. Tổng cộng cả 03 cây gỗ tại các Lô 3, 5, xẻ được 169 hộp gỗ có kích thước khác nhau để mang về làm nhà, còn lại 02 khúc. Trong thời gian Vàng A H vào khu rừng xẻ gỗ, Vàng A T và Vàng A B thay nhau đưa cơm trưa cho H và giúp Hồ cầm thước, kẻ chỉ và lật các khúc gỗ để H dùng máy cưa xẻ thành các hộp nhỏ.
Đến ngày 26/3/2024, Vàng A H nhờ Sùng A S, sinh năm 1970, Phàng A V, sinh năm 1989, Giàng A D, sinh năm 1971, Giàng A S1, sinh năm 1985, Vừ A S2, sinh năm 1998, Vàng Văn N, sinh năm 1989, Hạng Ca D1, sinh năm 1993, Giàng A T2, sinh năm 1990, Phàng A V1, sinh năm 1986, Giàng A T3, sinh năm 1992, Sùng A V2, sinh năm 1967, Giàng A S3, sinh năm 1997 đều trú tại Bản N, xã L; Lý A L1, sinh năm 2001, Lý Ka D2, sinh năm 1978, Lý A G, sinh năm 1984 đều trú tại bản Lùng Cù, xã L; Thào A S4, sinh năm 1980, Má A L2, sinh năm 1985 đều trú tại bản X, xã H, huyện S giúp vận chuyển toàn bộ 169 hộp gỗ đã xẻ được xuống đường mòn nơi xe máy có thể đi đến được. Từ ngày 01/4 đến ngày 03/4/2024, Vàng A H cùng Vàng T dùng 02 xe mô tô của gia đình (01 xe nhãn hiệu Honda, loại Wave, BKS: 25S1-0802 và 01 xe nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, BKS: 25B1-24885) chở gỗ, Vàng A B đẩy xe cho H và T đi qua những đoạn đường khó đi, vận chuyển toàn bộ số gỗ trên về tập kết tại một bãi ruộng cạn thuộc bản Nậm Bó, xã L để mang về làm nhà. Tại hiện trường có 04 khúc gỗ, trong đó: 01 khúc chiều dài 4,7m, đường kính 70cm; 01 khúc chiều dài 10,45m, đường kính 65cm; 01 khúc chiều dài 19,6m, đường kính trung bình 27cm và 01 khúc chiều dài 9,8m, đường kính trung bình 29cm. Quá trình điều tra xác định, các Lô 1, 3, 5, khoảnh 8, Tiểu khu B khu rừng thuộc bản N, xã L, huyện S là rừng tự nhiên, chức năng phòng hộ, theo Quyết định của UBND huyện S.
Ngày 04/04/2024, Tổ công tác UBND xã L, huyện S phối hợp với Công an xã và Hạt kiểm lâm huyện S tiến hành kiểm tra công tác bảo vệ rừng phòng hộ trên địa bàn xã, phát hiện tại bãi ruộng cạn thuộc bản N, xã L có 169 thanh gỗ (gỗ hộp) có tổng khối lượng 5.121m (quy đổi ra gỗ tròn là 8.194 m3). Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đã làm rõ hành vi phạm tội của Vàng A H, Vàng A B, Vàng A T về tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.
Tại biên bản xác định khối lượng tang vật vi phạm ngày 09/4/2024 của Hạt Kiểm lâm huyện S xác định: 04 khúc gỗ có tổng khổng lượng 7,042 m³ tròn; 169 thanh gỗ (gỗ hộp) có tổng khối lượng 5.121 m³, quy đổi ra gỗ tròn là 8.194 m³. Tổng khối lượng gỗ khai thác trái phép là 15,236 m³ gỗ tròn (phương pháp tính theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 4 Thông tư số 26/TT-BNNPTNT ngày 30/12/2022 của Bộ N1 về quản lý, truy xuất nguồn gốc lâm sản).
Tại Bản kết luận giám định số 252/CNR-VP, ngày 17/4/2024 của V3 rừng thuộc V4 kết luận: Căn cứ kết quả phân tích cấu tạo thô đại và hiển vi của 05 mẫu gỗ do Cơ quan CSĐT Công an huyện S trưng cầu giám định, ký hiệu từ C1 đến C5, kiểm tra so với cơ sở dữ liệu các loại gỗ, mẫu tham chiếu, tài liệu, kết luận: 05 mẫu gỗ giám định thuộc 02 chủng loại gỗ khác nhau, cụ thể: các mẫu từ C01 đến C04 là gỗ Sâng có tên khoa học là Pometia P1 thuộc Nhóm IV, mẫu C05 là gỗ Giổi có tên khoa học là M1 thuộc nhóm III.
Nhóm gỗ trong “Bảng phân loại tạm thời các loại gỗ sử dụng thống nhất trong cả nước” ban hành kèm theo Quyết định số 2198-CNR ngày 26/11/1977 của Bộ L3, nay là Bộ N1 và Quyết định số 334-CNR ngày 10/5/1998 về việc điều chỉnh việc xếp hạng một số loại gỗ sử dụng trong bảng phân loại 8 nhóm.
Loài S5 (P) và loài G1 (M2) không có tên trong “Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm” ban hành theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng hoang dã nguy cấp; và không có tên trong “Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm” ban hành theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2021 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng hoang dã nguy cấp, quý hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, nên đây là các loại thực vật rừng thông thường.
Tại Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 31/5/2024, của Hội đồng định giá tài sản huyện sìn Hồ kết luận: 15,236m, trị giá: 23.493.500 đồng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu: ông Thàng Văn T1 không đề nghị các bị cáo phải bồi thường thiệt hại tài sản theo kết luận định giá tài sản do số tiền trên đã được tịch thu, nộp ngân sách nhà nước. Đối với việc bị cáo Vàng A H, Vàng A B, Vàng A T đã giao nộp tổng số tiền 3.000.000 đồng (mỗi bị cáo 1.000.000 đồng) cho cơ quan Thi hành án dân sự để bồi thường cho nhà nước, ông Thàng Văn T1 đồng ý và không có yêu cầu gì thêm. Các bị cáo nhất trí.
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ những vật chứng sau:
- 01 máy cưa xích cầm tay nhãn hiệu HUSQVARNA 365, màu cam; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại loại Wave, BKS: 25S1-0802 (đăng ký xe mang tên Vàng A H); 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, BKS: 25B1-248.85 (đăng ký xe mang tên Vàng A H); 01 con dao có tổng chiều dài cả cán gỗ 46 cm, phần lưỡi dao rộng nhất là 04cm; 01 thước mét màu xanh, nhãn hiệu C-Mart, loại 05m.
- Đối với 12,164 m³ gỗ, trong đó: 169 hộp gỗ Sâng có khối lượng 5,121 m³, 03 khúc gỗ Sâng có khối lượng 6,396 m³ và 01 khúc gỗ Giổi có khối lượng 0,647 m³. (quy đổi ra gỗ tròn có tổng khối lượng 15,236 m³). Cơ quan Công an huyện S không có Kho bảo quản các vật cồng kềnh, ngày 11/7/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã quyết định xử lý vật chứng, bán chỉ định toàn bộ số tang vật này với số tiền 23.493.500 đồng (bằng kết luận định giá tài sản số 04 ngày 31/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện sìn Hồ).
Bản cáo trạng số 45/CT - VKSSH ngày 09/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ đã Truy tố bị cáo Vàng A H, Vàng A B và Vàng A T ra trước Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, để xét xử về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 232 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 232 Bộ luật hình sự, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vàng A H từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”. Xử phạt bị cáo Vàng A B và Vàng A T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”. Ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo theo quy định của pháp luật. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phạt tiền theo quy định tại khoản 4 Điều 232 Bộ luật hình sự. Về án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình: Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao có tổng chiều dài cả cán gỗ 46 cm, phần lưỡi dao rộng nhất là 04cm, 01 thước mét màu xanh, nhãn hiệu C-Mart, loại 05m. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 máy cưa xích cầm tay nhãn hiệu HUSQVARNA 365, màu cam; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại loại Wave, BKS: 25S1-0802 (đăng ký xe mang tên Vàng A H); 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, BKS: 25B1-248.85 (đăng ký xe mang tên Vàng A H). Nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 23.493.500 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – UBND xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu: ông Thàng Văn T1 không đề nghị các bị cáo phải bồi thường thiệt hại tài sản theo kết luận định giá tài sản do số tiền trên đã được tịch thu, nộp ngân sách nhà nước. Đối với việc bị cáo Vàng A H, Vàng A B, Vàng A T đã giao nộp tổng số tiền 3.000.000 đồng (mỗi bị cáo 1.000.000 đồng) cho cơ quan Thi hành án dân sự để bồi thường cho nhà nước, ông Thàng Văn T1 đồng ý và không có yêu cầu gì thêm. Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự ghi nhận ý kiến của các bên. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – UBND xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu: ông Thàng Văn T1 nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến gì khác, không có tranh luận gì.
Ba bị cáo Vàng A H, Vàng A B và Vàng A T đều nhất trí với bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát không có tranh luận gì khác. Tại lời nói sau cùng bị cáo Vàng A H rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cho bị cáo được hưởng án treo, bị cáo Vàng A B, Vàng A T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hai bị cáo tuổi đời còn rất trẻ chưa có vợ, con hai bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo cải tạo làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa vắng mặt tám người làm chứng, xét thấy đều đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và sự vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử, do đó Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Lời khai nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để khẳng định:
Do muốn có gỗ để làm nhà ở, nên trong khoảng thời gian từ tháng 7/2023 đến tháng 3/2024, tại các Lô S, 3, 5 Khoảnh 8, Tiểu khu B, thuộc khu rừng phòng hộ tự nhiên thuộc bản Nậm Bó, xã L, do UBND xã L, huyện S quản lý, các bị cáo Vàng A H, Vàng A B, Vàng T đã có hành vi khai thác trái phép 05 cây gỗ thông thường trong đó: 04 cây gỗ Sâng và 01 cây gỗ Giổi, tổng thiệt hại khối lượng 15,236 m³ gỗ, trị giá 23.493.500 đồng. Đến ngày 04/04/2024, Tổ công tác UBND xã L, huyện S phối hợp với Công an xã và Hạt kiểm lâm huyện S tiến hành kiểm tra công tác bảo vệ rừng phòng hộ phát hiện hành vi phạm tội. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã làm rõ hành vi phạm tội của các bị cáo.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Vàng A H là người khởi xướng và thực hành; các bị cáo Vàng A B, Vàng A T có vai trò là người thực hành, giúp sức. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của bản thân và thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý và bảo vệ rừng của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội của địa phương.
Ý thức được điều đó nhưng vì mục đích tư lợi cho bản thân để làm nhà các bị cáo vẫn cố ý phạm tội nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 232 Bộ luật hình sự.
Điều 232. Tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, quy định:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 243 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm....
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đến 1.500.000.000 hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
d) Khai thác trái phép rừng phòng hộ là rừng tự nhiên từ 15 mét khối (m³) đến dưới 30 mét khối (m³) gỗ loài thực vật thông thường hoặc từ 10 mét khối (m³) đến dưới 20 mét khối (m³) gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA;
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Vàng A H, Vàng A B, Vàng A T đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của bản thân; các bị cáo đã tự nguyện nộp tiền khắc phục hậu quả, mỗi bị cáo nộp 1.000.000 đồng, tổng số tiền là 3.000.000 đồng các bị cáo đã nhờ người thân nộp đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ; các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số sinh sống ở nơi có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét toàn diện nội dung vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: các bị cáo đồng phạm giản đơn, các bị cáo đã nhận thức rõ và rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, căn cứ hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 01/2022/NQ – HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên việc cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội là không cần thiết mà quyết định cho ba bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định; Cả ba bị cáo đều bị tạm giam từ ngày 20/5/2024 cho đến ngày xét xử 11/9/2024, thời gian tạm giam này cũng đủ để các bị cáo nhìn nhận, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, việc cho bị cáo hưởng án treo thể hiện được tính răn đe, giáo dục, tính khoan hồng của pháp luật và không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Xã hội chủ nghĩa. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức xử phạt hình sự, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và các vấn đề khác đối các bị cáo Vàng A H, Vàng A B, Vàng A T là có căn cứ nên được chấp nhận. Đối với đề nghị của UBND xã L tại phiên tòa là tự nguyên, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền theo quy định tại khoản 4 Điều 232 của Bộ luật hình sự. Nhưng xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có khả năng thi hành, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án: áp dụng Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. điểm a, b khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao có tổng chiều dài cả cán gỗ 46 cm, phần lưỡi dao rộng nhất là 04cm, 01 thước mét màu xanh, nhãn hiệu C-Mart, loại 05m. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 máy cưa xích cầm tay nhãn hiệu HUSQVARNA 365, màu cam; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại loại Wave, BKS: 25S1-0802 (đăng ký xe mang tên Vàng A H); 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, BKS: 25B1-248.85 (đăng ký xe mang tên Vàng A H). Nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 23.493.500 đồng (bằng kết luận định giá tài sản số 04 ngày 31/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện sìn Hồ).
[6] Về các vấn đề liên quan:
- Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – UBND xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu: Người đại diện ông Thàng Văn T1 không đề nghị các bị cáo phải bồi thường thiệt hại tài sản theo kết luận định giá tài sản do số tiền trên đã được tịch thu, nộp ngân sách nhà nước. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo Vàng A H, Vàng A B, Vàng A T đã giao nộp tổng số tiền 3.000.000 đồng (mỗi bị cáo 1.000.000 đồng) cho cơ quan Thi hành án dân sự để bồi thường cho nhà nước, ông Thàng Văn T1 đồng ý và không có yêu cầu gì thêm, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận các bị cáo đã bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự.
- Đối với 17 người bao gồm: Sùng A S, sinh năm 1970, Phàng A V, sinh năm 1989, Giàng A D, sinh năm 1971, Giàng A S1, sinh năm 1985, Vừ A S2, sinh năm 1998, Vàng Văn N, sinh năm 1989, Hạng Ca D1, sinh năm 1993, Giàng A T2, sinh năm 1990, Phàng A V1, sinh năm 1986, Giàng A T3, sinh năm 1992, Sùng A V2, sinh năm 1967, Giàng A S3, sinh năm 1997 đều trú tại Bản N, xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu; Lý A L1, sinh năm 2001, Lý Ka D2, sinh năm 1978, Lý A G, sinh năm 1984 đều trú tại bản L, xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu; Thào A S4, sinh năm 1980, Má A L2, sinh năm 1985 đều trú tại bản X, xã H, huyện S, giúp các bị cáo vận chuyển 169 hộp gỗ đã xẻ được ở trong rừng xuống đường mòn. Quá điều tra xác định, những người này không biết việc Vàng A H, Vàng A B, Vàng A T khai thác gỗ trái phép, họ chỉ được nhờ giúp, không có hứa hẹn được trả tiền công hay hưởng lợi gì. Khối lượng gỗ vận chuyển ra khỏi rừng là 5,121 m³ gỗ xẻ (quy đổi ra gỗ tròn là 8,194 m³). Vì vậy, hành vi của những người này chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”, quy định tại điểm k khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự; ngoài ra những người này chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều 232 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện S quyết định tách hành vi của những người này và chuyển toàn bộ tài liệu liên quan cho Hạt Kiểm lâm huyện S để tiếp tục xác minh xử lý về phạm hành chính theo thẩm quyền. Kiến nghị Hạt Kiểm lâm huyện Sìn Hồ xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Kiến nghị UBND xã L làm tốt công tác quản lý rừng tự nhiên trên địa bàn, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến tới quần chúng nhân dân về trách nhiệm bảo vệ rừng, tuyên truyền tới bà con nhân dân về tác hại của việc phá rừng trái phép gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và đời sống của bà con nhân dân.
[7] Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm d khoản 2, khoản 4 Điều 232, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ – HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự. Điều 328, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án đối với các bị cáo:
- Tuyên bố các bị cáo Vàng A H, Vàng A B, Vàng A T phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
- Về hình phạt:
- Về vật chứng của vụ án:
- Về trách nhiệm dân sự:
- Về án phí:
Xử phạt: Bị cáo Vàng A H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (Năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 11/9/2024). Trong thời gia thử thách, giao bị cáo Vàng A H cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong quá trình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Xử phạt: Bị cáo Vàng A B 02 (Hai) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 (Bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 11/9/2024). Trong thời gia thử thách, giao bị cáo Vàng A B cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong quá trình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Xử phạt: Bị cáo Vàng A T 02 (Hai) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 (Bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 11/9/2024). Trong thời gia thử thách, giao bị cáo Vàng A B cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong quá trình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
* Áp dụng điểm d khoản 1 điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự: hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với các bị cáo, trả tự do tại phiên tòa cho các bị cáo.
áp dụng Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao có tổng chiều dài cả cán gỗ 46 cm, phần lưỡi dao rộng nhất là 04cm, 01 thước mét màu xanh, nhãn hiệu C-Mart, loại 05m. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 máy cưa xích cầm tay nhãn hiệu HUSQVARNA 365, màu cam; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại loại Wave, BKS: 25S1-0802 (đăng ký xe mang tên Vàng A H); 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, BKS: 25B1-248.85 (đăng ký xe mang tên Vàng A H). Nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 23.493.500 đồng. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 9 giờ 20 phút ngày 11/09/2024 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ).
Nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 3.000.000 đồng (ba bị cáo mỗi bị cáo tự nguyện nộp 1.000.000 đồng tiền khắc phục hậu quả) theo Biên lai thu tiền số 0000573 ngày 22 tháng 7 năm 2024 giữa Trần Văn T4 nộp hộ Phàng A với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Đối với số tiền 23.493.500 đồng là tiền bán đấu giá số gỗ Tòa án tuyên nộp vào ngân sách nhà nước, tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Thàng Văn T1 (đại diện cho UBND xã L, huyện S) đồng ý và không có yêu cầu gì thêm, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận các bị cáo đã bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự.
Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội đối với các bị cáo Vàng A H, Vàng A B, Vàng A T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp trên về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ toạ phiên toà Lê Minh Tuấn |
Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
- Số bản án: 70/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vàng A H và đp phạm tội Vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
