Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 70/2024/ HS-ST

Ngày: 10/5/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Thể.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ninh Văn Trung

Bà Nguyễn Thị Công Mừng

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Vũ Hữu Thơ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Ông Đào Duy Đông – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 62/2024/ HSST ngày 26/4/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QĐXXST-HS ngày 26/4/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Hoàng Hồng S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam Sinh năm 1996, tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Chức vụ, đoàn thể, Đảng phái: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 9/12; Con ông Hoàng Văn T, sinh năm 1969; Con bà Vy Thị T1, sinh năm 1973, trú tại thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 07/02/2024 đến ngày 09/02/2024 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại ở nơi cư trú (có mặt).

2. Họ và tên: Nguyễn Đức T2; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1997, tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Chức vụ, đoàn thể, Đảng phái: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 10/12; Con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1972 (đã chết); Con bà Hoàng Thị L, sinh năm 1974, trú tại thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Bị cáo có vợ là Lương Thị T3 sinh năm 2003; Con: Có 1 con sinh năm 2023.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 07/02/2024 đến ngày 09/02/2024 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú (có mặt).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan

  1. Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1969 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  2. Chị Vi Thị T4, sinh năm 1973 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  3. Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1974 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  4. Lương Thị T3, sinh năm 2003 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  5. Nguyễn Văn T5, sinh năm 1991 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 07/02/2024, Tổ công tác của Đội cảnh sát điều tra hình sự Công an huyện L phát hiện bắt quả tang Hoàng Hồng S, sinh năm 1996 và Nguyễn Đức T2, sinh năm 1997 cùng trú tại thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang đang có hành vi vận pháo nổ đến khu vực cổng đền H thuộc thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang để bán. Tổ công tác lập biên bản thu giữ các vật chứng gồm:

  • - 04 (bốn) khối hình trụ, bên ngoài mỗi khối được bọc ni lon màu trắng, bên trong mỗi khối có 90 (chín mươi) vật hình trụ, được quấn bằng giấy màu đỏ có hình, chữ màu vàng, kích thước (05 x 2,3) cm, hai đầu được bịt kín, trong đó một đầu gắn dây ngòi với vật hình trụ được liên kết với nhau thành dây (Bánh).
  • - 05 (năm) vật hình trụ, mỗi vật có vỏ bằng giấy màu nâu, trắng, kích thước (3,5 x 9,5) cm (trong đó có 03 (ba) vật có gắn dây ngòi màu đỏ và 02 (hai) vật có gắn dây ngòi màu xanh lá cây), bên ngoài mỗi vật được quấn bằng ni lon màu trắng.
  • - Số tiền: 2.000.000 đồng (tiền VNĐ); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh ngọc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu sơn xanh-đen-cam, biển kiểm soát: 98B3-744.78; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu sơn đen, biển kiểm soát: 98E1-672.65.

Quá trình điều tra, Hoàng Hồng S và Nguyễn Đức T2 khai nhận:

Khoảng tháng 7 năm 2023, S thấy trên mạng xã hội có video hướng dẫn làm pháo nổ nên đã nảy sinh ý định sản xuất pháo với mục đích để bán lấy tiền chi tiêu. S bắt đầu tìm hiểu cách chế tạo pháo trên mạng xã hội Facebook, Y. Đến khoảng tháng 11 năm 2023, T2 là em họ của S đến nhà S chơi thấy S chế tạo pháo nổ nên T2 đã đề xuất cùng S chế tạo pháo nổ. T2 và S bắt đầu sản xuất pháo nổ tại nhà T2 và nhà anh S từ khoảng tháng 11 năm 2023 đến khoảng tháng 01 năm 2024.

S và T2 cùng truy cập vào mạng xã hội Facebook, S1 đặt mua nguyên liệu là các hóa chất gồm: Kali Clorat (KClO3) và bột nhũ nhôm để sản xuất chế tạo pháo nổ; hạt cháy sáng lấp lánh gọi là hạt “STAR” và thuốc phóng để sản xuất và chế tạo pháo hoa nổ (pháo trứng). Ngoài ra, S và T2 còn đặt mua trên mạng xã hội vỏ của quả pháo là các ống giấy hình trụ, hình cầu rỗng giữa và cân tiểu ly để cân thuốc pháo. Khi đặt mua được nguyên liệu, S và T2 đi mua băng dính, keo 502, kéo cắt giấy, màng bọc thực phẩm bằng nilon để sử dụng quấn làm ngòi pháo.

Về quy trình, cách thức sản xuất pháo nổ: Tạo thuốc pháo bằng cách trộn Kali clorat (KClO3) với bột nhũ nhôm theo tỉ lệ khối lượng 100 gam bột Kali clorat với 25 gam bột nhũ nhôm cho vào hộp nhựa và lắc đều. Sau đó cho thuốc pháo vào vỏ pháo rồi đặt các đoạn dây dẫn (dây cháy chậm) cho tiếp xúc với thân pháo đã chứa thuốc pháo rồi dán bịt cố định đầu quả pháo để tạo thành một quả pháo hoàn chỉnh. Tiếp đó dùng dây cháy chậm và dây chỉ để kết nối 90 (chín mươi) quả pháo lại với nhau tạo thành một bánh pháo. Dây cháy chậm được chế tạo bằng cách dùng màng bọc thực phẩm quấn hỗn hợp thuốc pháo (Kali clorat trộn với bột nhũ nhôm).

Đối với việc chế tạo pháo hoa nổ dạng pháo trứng thì S và T2 dùng cân tiểu ly để cân thuốc phóng theo tỉ lệ là 12% thuốc phóng/01 quả pháo trứng tương ứng khoảng 15 gam/01 quả pháo trứng. Sau đó sử dụng hạt “STAR” xếp đều - đầy mặt trong vỏ pháo hình cầu được mua sẵn rồi dùng băng dính quấn lại, phần bên dưới được nhồi thuốc phóng và đặt dây cháy chậm dài khoảng 20 cm, sau đó quấn băng dính để tạo thành một quả thành phẩm (pháo trứng).

S và T2 cùng chung tiền đầu tư để mua toàn bộ nguyên, vật liệu, công cụ, phương tiện để sản xuất pháo nổ, cũng cùng nhau tham gia các công đoạn sản xuất pháo nổ gồm: Pha trộn thuốc pháo, làm ngòi, gắn dây ngòi, cho thuốc vào vỏ pháo, bịt đáy và đầu pháo, kết bánh, đóng gói và các công đoạn khác. Từ tháng 11 năm 2023 đến tháng 01 năm 2024, S và T2 đã cùng nhau sản xuất được khoảng 07 đến 08 bánh pháo nổ loại pháo dây và khoảng 10 quả pháo hoa nổ loại pháo trứng. Sau khi sản xuất pháo nổ thành phẩm, S và T2 đã đốt thử nghiệm một số cả pháo nổ loại pháo dây và pháo trứng, còn để lại 04 (bốn) bánh pháo nổ dạng pháo dây và 05 (năm) quả pháo hoa nổ dạng pháo trứng để bán.

S và T2 thống nhất, sau khi sản xuất được pháo nổ để bán lấy tiền chia đều để cùng nhau chi tiêu cá nhân. S sẽ liên hệ với người mua pháo còn T2 sẽ vận chuyển pháo cho người mua theo yêu cầu của S.

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 07/02/2024, S đang ở nhà thì có một người là nam giới (S không quen biết) liên hệ với S qua điện thoại di động bằng ứng dụng Messenger hỏi mua pháo nổ của S, nam thanh niên này hỏi mua của S 04 (bốn) bánh pháo nổ dạng pháo dây và 05 (năm) quả pháo hoa nổ dạng pháo trứng thì S đồng ý với giá thỏa thuận là 700.000 đồng/01 dây pháo nổ và 300.000 đồng/01 quả pháo trứng. Tổng số tiền đặt mua là 4.300.000 đồng (bốn triệu ba trăm nghìn đồng). Khi nam thanh niên này đồng ý mua thì S hẹn người thanh niên đến khu vực trước cổng đền H thuộc thôn K, xã H, huyện L. Sau đó, S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter 150, màu đen, biển số: 98E1-672.65 đi từ nhà S đến nhà anh Nguyễn Văn T5, sinh năm 1991, ở cùng thôn K, xã H, huyện L, để lấy một quả pháo hoa nổ loại pháo trứng do S cất giấu tại tủ để ngoài sân của nhà anh T5 trước đó. Sau khi lấy được một quả pháo hoa nổ, S điều khiển xe mô tô đi đến gần cổng đền H thì dừng lại gọi điện thoại liên lạc với T2 qua ứng dụng Messenger bảo T2 mang 04 (bốn) bánh pháo nổ dạng pháo dây và 04 (bốn) quả pháo hoa nổ dạng pháo trứng đến cổng Đền H để bán cho khách. Sau khi nhận được cuộc gọi của S, T2 cho 04 (bốn) quả pháo nổ vào trong một túi nilon màu rồi cho thêm 04 (bốn) bánh pháo nổ vào trong một bao tải dứa màu trắng xanh rồi T2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter 150, màu xám đen cam, biển số: 98B3-744.78 đem theo số pháo trên đến điểm hẹn. T2 và S gặp một người nam giới không quen biết, đi một xe ô tô không rõ loại xe, biển số. Sau khi người đàn ông mua pháo kiểm tra đúng số lượng và loại pháo đã thỏa thuận trước đó thì đưa tiền cho S và T2. Đúng lúc này bị Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra hình sự Công an huyện L phát hiện bắt quả tang. S và T2 bị bắt giữ còn người đàn ông mua pháo đã bỏ chạy thoát.

Ngày 07/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Hồng S, Nguyễn Đức T2 và nơi ở của anh Nguyễn Văn T5. Quá trình khám xét, Cơ quan điều tra đã thu giữ tại nơi ở của S các đồi vật gồm: 01 chiếc đũa bằng gỗ có 01 đầu tròn, 01 đầu vuông, dài 24,3cm; 50 đoạn giấy màu đỏ. Khám xét nơi ở của T2 và anh T5 không phát hiện, thu giữ được tài liệu, đồ vật gì liên quan.

Ngày 07/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang Quyết định trưng cầu giám định số: 288/QĐ-CSĐT trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định đối với số vật chứng thu giữ nghi là pháo nổ khi bắt người phạm tội quả tang. Tại Kết luận giám định số 358/KL-KTHS, ngày 08/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

Trong 01 (một) bao tơ dứa có nhiều màu sắc, hình, chữ khác nhau, nhãn hiệu “NPK AMINO” đã được niêm phong gửi giám định:

  • - 04 (bốn) khối hình trụ, bên ngoài mỗi khối được bọc ni lon màu trắng, bên trong mỗi khối có 90 (chín mươi) vật hình trụ, được quấn bằng giấy màu đỏ có hình, chữ màu vàng, kích thước (05 x 2,3) cm, hai đầu được bịt kín, trong đó một đầu gắn dây ngòi, có vật hình trụ được liên kết với nhau thành dây đều là pháo nổ, có tổng khối lượng là 6,8 kg (sáu phẩy tám ki lô gam).
  • - 05 (năm) vật hình trụ, mỗi vật có vỏ bằng giấy màu nâu, trắng, kích thước (3,5 x 9,5) cm (trong đó có 03 (ba) vật có gắn dây ngòi màu đỏ và 02 (hai) vật có gắn dây ngòi màu xanh lá cây), bên ngoài mỗi vật được quấn bằng ni lon màu trắng đều là pháo nổ (Pháo hoa nổ), có tổng khối lượng là 0,8 kg (không phẩy tám ki lô gam).

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo Hoàng Hồng S và Nguyễn Đức T2 đã khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận việc sản xuất, buôn bán hàng cấm của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra đã được công bố tại phiên tòa.

Tại bản Cáo trạng số 75/CT-VKS-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo Hoàng Hồng S và Nguyễn Đức T2 về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự;

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn giữ quyền công tố nhà nước tại phiên toà đã luận tội các bị cáo, phân tích tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo, giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 ; Điều 17 ; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Hồng S từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù về tội “sản xuất, buôn bán hàng cấm”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 ; Điều 17, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T2 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “sản xuất, buôn bán hàng cấm”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp các bị cáo Hoàng Hồng S và Nguyễn Đức T2 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 11, màu xanh ngọc, có số IMEI: 352903115422940 bên trong có gắn một thẻ sim điện thoại; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 11 Promax, màu xám, có số IMEI: 353899106996943, bên trong có gắn một thẻ sim điện thoại; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu sơn: đen, biển số: 98E1-672.65, số khung: RLCUG1010KY131062, số máy: G3D4E897492; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu sơn: xám - đen -cam, biển số: 98B3-744.78, số khung: RLCUG1010LY304695, số máy: G3D4E1075732; Số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0002630 ngày 03/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn.

Tịch thu tiêu hủy: Trong 01 (một) bao tơ dứa có nhiều màu sắc, hình, chữ khác nhau, nhãn hiệu “NPK AMINO” có: 5,4 kg (năm phẩy tư ki lô gam) Pháo nổ; 0,5 kg (không phẩy năm ki lô gam) Pháo nổ (Pháo hoa nổ); Vỏ bao gói mẫu sau giám định; 01 (một) chiếc đũa bằng gỗ một đầu hình tròn, một đầu vuông có chiều dài 24,3 cm; 50 (năm mươi) đoạn giấy màu đỏ có kích thước dài, rộng khác nhau.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hoàng Hồng S và Nguyễn Đức T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không có tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập: Hoạt động điều tra thu thập chứng cứ và các tài liệu của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của người này không ảnh hưởng đến kết quả xét xử. Căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện L, Công an tỉnh B, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tang vật chứng thu hồi được, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: “Hoàng Hồng S, sinh năm 1996 và Nguyễn Đức T2 sinh năm 1997 đều trú tại thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Khoảng tháng 7 năm 2023, S thấy trên mạng xã hội có video hướng dẫn làm pháo nổ nên đã nảy sinh ý định sản xuất pháo với mục đích để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. S bắt đầu tìm hiểu cách chế tạo pháo trên mạng xã hội Facebook, Y. Đến khoảng tháng 11 năm 2023, T2 là em họ của S đến nhà S chơi thấy S chế tạo pháo nổ nên T2 đã đề xuất cùng S chế tạo pháo nổ. T2 và S bắt đầu sản xuất pháo nổ tại nhà T2 và nhà anh S từ khoảng tháng 11 năm 2023 đến khoảng tháng 01 năm 2024. Khoảng 19 giờ ngày 07/2/2024, tại khu vực cổng Đền H thuộc thôn K, xã H, huyện L, Tổ công tác của Đội điều tra hình sự Công an huyện L phát hiện bắt quả tang S và T2 đang có hành bán tổng khối lượng là 6,8 kg (sáu phẩy tám ki lô gam) pháo nổ và 0,8 kg (không phẩy tám ki lô gam) Pháo hoa nổ. Tổng khối lượng pháo nổ S, T2 sản xuất, buôn bán là: 7,6 kg (bẩy phẩy sáu ki lô gam).”

[3] Hành vi nêu trên của Hoàng Hồng S và Nguyễn Đức T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “sản xuất, buôn bán hàng cấm”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự. Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử kết tội các bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm lưu thông, kinh doanh. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có hình phạt thích đáng đối với các bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung về tội phạm.

[4] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy: Bị cáo S là người có ý tưởng sản xuất phảo nổ trước, tìm người tiêu thụ, nên bị cáo có vai trò cao hơn bị cáo T2.

[5] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì thấy: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Các bị cáo đều là quân nhân (có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự), đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được xem xét theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội mà chỉ cần giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú gảm sát, giáo dục cũng có đủ điều kiện để cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp. Đối với tội phạm này ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định, sống phụ thuộc gia đình, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[8] Đối với anh Nguyễn Văn T5 không biết việc S cất giấu 01 quả pháo hoa nổ dạng pháo trứng tại nơi ở của mình; ông Hoàng Văn T, sinh năm 1969, bà Vi Thị T4, sinh ănm 1973 là bố, mẹ của S; bà Hoàng Thị L, sinh năm 1973, chị Lương Thị T3 sinh năm 2003 là mẹ và vợ của T2 đều không biết việc S, T2 sản xuất pháo nổ tại nơi ở của mình, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý. Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[9] Về vật chứng: Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 11, màu xanh ngọc, có số IMEI: 352903115422940 có gắn một thẻ sim điện thoại; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 11 Promax, màu xám, có số IMEI: 353899106996943 có gắn một thẻ sim điện thoại; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu sơn: đen, biển số: 98E1-672.65, số khung: RLCUG1010KY131062, số máy: G3D4E897492; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu sơn: xám - đen -cam, biển số: 98B3-744.78, số khung: RLCUG1010LY304695, số máy: G3D4E1075732; Số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0002630 ngày 03/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn là công cụ, phương tiện liên quan đến việc phạm tội của bị cáo cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Đối với: Trong 01 (một) bao tơ dứa có nhiều màu sắc, hình, chữ khác nhau, nhãn hiệu “NPK AMINO” có: 5,4 kg (năm phẩy tư ki lô gam) Pháo nổ; 0,5 kg (không phẩy năm ki lô gam) Pháo nổ (Pháo hoa nổ); Vỏ bao gói mẫu sau giám định; 01 (một) chiếc đũa bằng gỗ một đầu hình tròn, một đầu vuông có chiều dài 24,3 cm; 50 (năm mươi) đoạn giấy màu đỏ có kích thước dài, rộng khác nhau là công cụ liên quan đến hành vi phạm tội, cấm lưu hành, do vậy cần tịch thu tiêu hủy.

[10] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sư sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại Điều 147 Bộ luật hình sự Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định cuả pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Điều 17, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Hồng S 01 năm 06 tháng tù về tội “sản xuất, buôn bán hàng cấm”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T2 01 năm 04 tháng tù về tội “sản xuất, buôn bán hàng cấm”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm 08 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp các bị cáo Hoàng Hồng S và Nguyễn Đức T2 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 11, màu xanh ngọc, có số IMEI: 352903115422940 bên trong có gắn một thẻ sim điện thoại; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 11 Promax, màu xám, có số IMEI: 353899106996943, bên trong có gắn một thẻ sim điện thoại; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu sơn: đen, biển số: 98E1-672.65, số khung: RLCUG1010KY131062, số máy: G3D4E897492; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu sơn: xám - đen -cam, biển số: 98B3-744.78, số khung: RLCUG1010LY304695, số máy: G3D4E1075732; Số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0002630 ngày 03/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn.

Tịch thu tiêu hủy: Trong 01 (một) bao tơ dứa có nhiều màu sắc, hình, chữ khác nhau, nhãn hiệu “NPK AMINO” có: 5,4 kg (năm phẩy tư ki lô gam) Pháo nổ; 0,5 kg (không phẩy năm ki lô gam) Pháo nổ (Pháo hoa nổ); Vỏ bao gói mẫu sau giám định; 01 (một) chiếc đũa bằng gỗ một đầu hình tròn, một đầu vuông có chiều dài 24,3 cm; 50 (năm mươi) đoạn giấy màu đỏ có kích thước dài, rộng khác nhau.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hoàng Hồng S và Nguyễn Đức T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Công an huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: VP và hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phan Văn Thể

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/ HS-ST ngày 10/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về sản xuất, buôn bán hàng cấm

  • Số bản án: 70/2024/ HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sản xuất, buôn bán hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Hồng S và Nguyễn Đức T Sản xuất buôn bán hàng cấm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger