|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 70/2024/DS-PT Ngày 09 - 9 - 2024 “V/v: Tranh chấp Quyền sử dụng đất” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂNTỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hán Hưởng
Các thẩm phán: Ông Hoàng Tiến Dũng và ông Bùi Xuân Trường
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Trọng Tú - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 61/2024/DSPT ngày 05 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DSST ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ bị đơn bà Phan Thị Kim O kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXPT-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Phan Thị Kim O, sinh năm 1966
Nơi ĐK HKTT: Khóm C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau.
Nơi ĐKHK Tạm trú: Số G, hẻm H, đường C, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.
Nơi ở hiện tại: Khu K, xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà O: Bà Đinh Thị H - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
-
Bị đơn: Ông Bùi Văn M, sinh năm 1938
Địa chỉ: Khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
-
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
-
Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1945
Địa chỉ: Khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
-
Ông Bùi Hữu Đ1 (tức Bùi Văn M1), sinh năm 1966
HKTT: Khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Hiện đang tạm trú tại: Số nhà D, N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắc Lắc (vắng mặt).
-
Ông Bùi Đức M2, sinh năm 1971
HKTT: Khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Hiện đang tạm trú tại: Xã T, thôn T, huyện Đ, tỉnh Đắc Nông(vắng mặt).
-
Chị Bùi Thị T, sinh năm 1977
Địa chỉ: Khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
-
Bà Phan Thị L, sinh năm 1942
Địa chỉ: Khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
-
Bà Phan Thị N;
Địa chỉ: Khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
-
Ông Ngô Văn T1, sinh năm 1942
Địa chỉ: Khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
-
Ông Phan Hồng S, sinh năm 1956.
Địa chỉ: Khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
-
Ông Phan Công X, sinh năm 1957
Địa chỉ: Khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
-
Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1945
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết tại Tòa án nguyên đơn là bà Phan Thị Kim O trình bày: Bà và ông M có quan hệ trước đây là bố chồng con dâu. Bố mẹ chồng bà là ông Bùi Văn M và bà Nguyễn Thị Đ sinh được 04 người con gồm: Ông Bùi Hữu Đ1 (tức Bùi Văn M1) sinh năm 1966; (trước đây là chồng của bà); ông Bùi Đức M2, sinh năm 1971; ông Bùi Quang T2, sinh năm 1974 (đã chết) và bà Bùi Thị T, sinh năm 1977.
Bà kết hôn với ông Bùi Hữu Đ1 (tức Bùi Văn M1) là con trai của ông M. Năm 1986, sau khi kết hôn thì vợ chồng bà về chung sống cùng gia đình ông M và nhập khẩu vào gia đình ông M. Năm 1988, bà được chia đất rau là 72m². Năm 1990, bà được xã cấp đất ruộng, đất bãi, đất rau xanh, cụ thể: Đất ruộng (đất lúa) 252 m²; đất bãi trồng màu 96 m²; đất rau xanh 72m², tổng diện tích ba loại đất bà được cấp trong cùng hộ ông M là 420m². Nay bà đề nghị Tòa án buộc ông M phải trả cho bà tổng diện tích là 420m². Đối với đất bãi và đất rau xanh đã được dồn đổi năm 2017 về 01 thửa có diện tích 616m². Sau khi dồn đổi năm 2017, có diện tích là 616m² nhưng đo đạc thực tế ngày 12/12/2023 diện tích còn 542,5m². Bà và ông M đã thỏa thuận với nhau ông M sẽ trả lại cho bà 90m² đất trong diện tích 542,5m². Đối với đất lúa bà đề nghị Tòa án yêu cầu ông M trả lại cho chị 252m² trong tổng diện tích 1008m² đất lúa còn lại trong hộ ông M.
2. Bị đơn cụ Bùi Văn M trình bày:
Ông và bà O có mối quan hệ bố chồng con dâu; ông có vợ là Nguyễn Thị Đ, sinh được 04 người con như bà O đã trình bày ở trên. Bà O kết hôn với con trai ông Bùi Hữu Đ1 (tức Bùi Văn M1). Sau khi kết hôn thì vợ chồng bà O về chung sống cùng gia đình ông và nhập khẩu về gia đình ông. Tại thời điểm đó con trai ông là Bùi Hữu Đ1 (tức Bùi Văn M1) đi bộ đội. Trong quá trình bà O chung sống tại gia đình ông thì bà O được tiêu chuẩn giao đất năm 1988, bà O được xã giao đất ruộng, đất bãi, đất rau xanh như các thành viên khác trong hộ gia đình, cụ thể: Đất ruộng (đất lúa) 252m²; đất bãi trồng màu 96m² và đất rau xanh 72m², tổng diện tích là 420m². Đến năm 1990, vợ chồng bà O và ông M1 đi miền nam làm ăn sinh sống, đến năm 1993 địa phương xã D chia lại ruộng đất, lúc này cả hai vợ chồng ông M1, bà O không có mặt tại địa phương nên UBND xã đã cắt bỏ phần đất ruộng (đất lúa) của cả bà O và ông M1, mỗi người là 252m², hai vợ chồng bà O và ông M1 là 504 m² giao cho người khác làm, cụ thể cho bà Phan Thị L 360m² và Chị Phan Thị N 144m². Phần đất bãi trồng màu 96m² thì đã bị lở hết xuống sông nay không còn. Hiện tại bà O chỉ còn đất rau xanh 72m².
Nay bà O khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông phải trả cho bà đất ruộng (đất lúa) 252m², đất bãi trồng màu 96m², đất rau xanh 72 m² ông không đồng ý vì phần đất ruộng (đất lúa) 252m² được chia theo khẩu của bà O từ trước, nhưng sau khi bà O, ông Mã b đi khỏi địa phương, UBND xã đã lấy lại diện tích đất lúa sau đó giao cho người khác sử dụng khi chia lại ruộng đất năm 1993. Phần đất bãi trồng màu 96m² thì đã bị lở hết xuống sông nay không còn. Ông chỉ nhất trí trả lại cho bà O diện tích đất rau xanh 72m². Năm 2017 đất bãi và đất rau xanh đã được dồn đổi về 01 thửa có diện tích 616m², khi đo thực tế diện tích chỉ còn 504m²; đất bãi trồng màu đã lở xuống sông hết còn lại 120m². Ngày 12/12/2023 đo đạc thực tế hai loại đất rau xanh và đất bãi trồng màu diện tích còn 542,5m² ông đã tự nguyện thỏa thuận với bà O là ông sẽ trả cho bà O 90m² đất trong diện tích 542,5m² (trong đó: đất rau xanh: 72m², đất bãi trồng màu 18 m²).
3. Ý kiến trình bày của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ông Bùi Hữu Đ1 (tức Bùi Văn M1); ông Bùi Đức M2; bà Bùi Thị T đều thống nhất trình bày và có quan điểm như sau: Bố mẹ ông là cụ M và cụ Đ có 4 người con là Bùi Hữu Đ1 (tức Bùi Văn M1); Bùi Đức M2; Bùi Quang T2, Bùi Thị T. Năm 1986, bà O kết hôn với ông Đ1. Sau khi kết hôn thì bà O về chung sống cùng gia đình cụ M và nhập khẩu vào gia đình cụ M. Tại thời điểm đó bà O có khẩu trong gia đình cụ M nên có tiêu chuẩn được xã giao đất ruộng, đất bãi, đất rau xanh, cụ thể: Đất ruộng (đất lúa) 252m² đất bãi trồng màu 96m², đất rau xanh 72m². Tổng diện tích bà O được cấp trong hộ nhà cụ M là 420m². Đến năm 1990, bà O và ông Đ1 đi miền nam làm ăn, sinh sống. Đến năm 1993, xã D chia lại ruộng đất, lúc này ông Đ1, bà O không có mặt tại địa phương nên UBND xã đã cắt bỏ phần đất ruộng (đất lúa) của bà O và ông M1 giao cho người khác làm, phần đất bãi trồng màu 96m² thì đã bị lở hết xuống sông nay không còn. Hiện tại bà O chỉ còn đất rau xanh 72m².
Ông Bùi Hữu Đ1 (tức Bùi Văn M1) trình bày hiện ông đang đi làm tự do ở thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thuê nhà nên không cố định thay đổi chỗ ở thường xuyên vì vậy Tòa án có ủy thác cho Tòa án Buôn Ma Thuật tỉnh Đắk Lắk để lấy lời khai làm việc với ông nhưng không thể làm việc được, hơn nữa ông đang bị ung thư tuyến giáp đang phải điều trị, do gia đình anh có việc nên ông về Tòa án đã lấy lời khai và hòa giải ông đã có quan điểm cụ thể, có đơn xin xét xử vắng mặt, nên xin được giải quyết vắng mặt trong tất cả các phiên tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như khi đưa vụ án ra xét xử. Tất cả các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho ông, ông đề nghị Tòa án gửi trực tiếp cho cụ M nhận thay cụ M sẽ có trách nhiệm thông báo lại cho ông.
Ông Bùi Đức M2 trình bày hiện ông đang đi làm huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Tòa án đã lấy lời khai và hòa giải ông đã có quan điểm cụ thể, có đơn xin xét xử vắng mặt, nên xin được giải quyết vắng mặt trong các phiên tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như khi đưa vụ án ra xét xử. Tất cả các văn bản tố tụng của tòa án gửi cho ông, ông đề nghị tòa án gửi trực tiếp cho cụ M nhận thay cụ M sẽ có trách nhiệm thông báo lại cho ông.
Bà Bùi Thị T hiện nay đang làm nghề buôn bán tự do nên thường xuyên vắng mặt tại địa phương. Tòa án đã lấy lời khai và hòa giải, bà đã có quan điểm cụ thể, có đơn xin xét xử vắng mặt nên xin được giải quyết vắng mặt trong các phiên tiếp cân công khai chứng cứ và hòa giải cũng như khi đưa vụ án ra xét xử. Tất cả các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho bà, bà đề nghị Tòa án gửi trực tiếp cho cụ M nhận thay, cụ M sẽ có trách nhiệm thông báo lại cho bà.
Nay bà O đề nghị Tòa án buộc cụ M phải trả cho chị đất ruộng (đất lúa) 252m², đất bãi trồng màu 96m²; đất rau xanh 72m². Ông Bùi Hữu Đ1; ông Bùi Đức M2; ông Bùi Thị T đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật vì đất ruộng (đất lúa) 252m² của bà O đã giao cho người khác làm sử dụng từ năm 1993. Phần đất bãi trồng màu 96m² thì đã bị lở hết xuống sông nay không còn, bà O chỉ còn lại diện tích đất rau xanh 72m².
Tòa án đã tiến hành lấy lời khai ông Phan Công X; ông Ngô Văn T3; ông Phan Hồng S là những người tham gia tổ chia ruộng đất năm 1989, các ông đều xác nhận bà O có được chia đất như bà O đã trình bày. Tuy nhiên, sau khi chia xong thì các ông hết nhiệm kỳ nên không nắm được đất ruộng (đất lúa) 252m² của bà O còn hay đã cắt để giao cho người khác.
Ông Nguyễn Văn N1 (cán bộ địa chính xã thời điểm năm 1984 đến 2019) có quan điểm: Thời điểm năm 1986 đến trước tháng 10/1993, những người trong độ tuổi lao động nông nghiệp thì được nhận khoán khoản đất nông nghiệp, đất bãi theo nghị quyết 10 và nghị quyết 100 của Bộ C, thời điểm này bà O kết hôn với ông Bùi Hữu Đ1 năm 1986 có nhập khẩu vào gia đình cụ M, nên bà O được nhận khoán khoản đất nông nghiệp và được giao đất bãi làm kinh tế phụ gia đình. Đến tháng 10 năm 1993 thực hiện Nghị định 64 của Chính phủ, giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân theo nguyên tắc giao đất cho các nhân khẩu có hộ khẩu thường trú tại địa phương đang sản xuất nông nghiệp, mỗi khẩu được giao 250m² đất ruộng (đất lúa). Tại thời điểm đó bà O và ông Đ1 đi khỏi địa phương vào miền nam sinh sống (từ năm 1990). Vì vậy bà O và ông Đ1 không có hộ khẩu thường trú tại địa phương, nên khi chia lại đất thì xuất đất của bà O và ông M1 đã giao trước đây bị lấy ra để giao cho người khác, bà O, ông M1 không được giao lại đất nông nghiệp theo nghị định 64 của Chính phủ.
Đối với cụ Phan Thị L và cụ Phan Thị N2: Tòa án cùng chính quyền địa phương đến làm việc tại nơi đăng ký HKTT nhưng không làm việc được.
4. Ngày 12/12/2023, Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ xác định được như sau:
-
+ Diện tích đất màu trồng cây hàng năm khác theo phương án dồn đổi năm 2017 là 616m². Kết quả đo đạc thực tế là 542,5m². Tài sản trên đất không có gì.
-
+ Diện tích đất lúa của hộ cụ M sau dồn đổi, nay diện tích là 1008m². Ngoài ra hộ cụ M còn 02 thửa là thửa số 598 tờ bản đồ 12,có diện tíchlà 203,1m²; thửa số 101 tờ bản đồ 15 có diện tích là 175,9m². Tài sản trên đất không có gì.
5. Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND xã D. Tại biên bản xác minh ngày 20/3/2024 và biên bản xác minh ngày 11/12/2023 thể hiện: Sổ sách lưu trữ tại thời điểm năm 2000 trở về trước thì UBND không còn lưu trữ nên không có thông tin để cung cấp. Đến năm 2000 thì hộ nhà cụ Bùi Văn M được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm 10 thửa trong đó gồm:
-
- 04 thửa trồng cây hàng năm gồm: Thửa số 4-25 tờ bản đồ số 1 diện tích 228m² (đã lở xuống sông); Thửa số 9-5 tờ bản đồ số 1 diện tích 252m² (đã lở xuống sông); Thửa số 20-9 tờ bản đồ số 2 diện tích 504m² (đất rau xanh); Thửa số 2-8 tờ bản đồ số 7 diện tích 120m².
-
- 06 thửa đất trồng lúa gồm: Thửa số 80 tờ bản đồ số 4 diện tích 168m²; Thửa số 117 + 118 tờ bản đồ số 4 diện tích 624m²; Thửa số 477 tờ bản đồ số 4 diện tích 456m²; Thửa số 550 tờ bản đồ số 4 diện tích 192m²; Thửa số 804-1 tờ bản đồ số 4 diện tích 168m². Theo tiêu chuẩn được chia ruộng thời điểm đó thì mỗi khẩu được chia theo nghị định 64 là đất rau xanh 72m²/01 khẩu; đất trồng cây hàng năm (đất màu) 96m²/01 khẩu và đất trồng lúa 252m²/01 khẩu.
Đến năm 2015 hộ cụ M được cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (có GCNQSDĐ phô tô kèm theo) gồm 07 thửa trong đó: Thửa số 27-9 tờ bản đồ số 9 diện tích 504,0m²; Thửa số 215 tờ bản đồ số 11 diện tích 475,8 m²; Thửa số 179 tờ bản đồ số 12 diện tích 201,2 m²; (thửa số 80 theo GCN năm 2000); Thửa số 232 tờ bản đồ số 12 diện tích 624,2 m²; Thửa số 598 tờ bản đồ số 12 diện tích 203,1 m²; Thửa số 5-8 tờ bản đồ số 13 diện tích 120,0m²; Thửa số 101 tờ bản đồ số 15 diện tích 175,9 m².
Năm 2017 xã H thực hiện công tác dồn đổi ruộng đất, hộ cụ M tham gia dồn đổi 05 thửa gồm:
-
- Đất màu: Thửa số 27-9 tờ bản đồ số 9 diện tích 504m²; Thửa số 5-8 tờ bản đồ số 13 diện tích 120 m². Được dồn đổi về bãi vuông diện tích sau dồn đổi là 616m², tại tờ bản đồ số 09.
-
- Đất lúa: Thửa số 215 tờ bản đồ số 11 diện tích 475,8m²; Thửa số 179 tờ bản đồ số 12 diện tích 201,2m²; Thửa số 232 tờ bản đồ số 12 diện tích 624,2 m², được dồn đổi về xã T diện tích sau dồn đổi là 1008,0m².
Đối với hộ cụ M, thời điểm trước năm 1990 có 7 người được cấp đất nông nghiệp gồm Bùi Văn M, Nguyễn Thị Đ, Bùi Hữu Đ1 (tức Bùi Văn M1), Bùi Đức M2, Bùi Thị T, Bùi Quang T2 và Phan Thị Kim O. Năm 1993, điều chỉnh lại ruộng đất, lúc này bà O và ông Đ1 không có mặt tại địa phương nên bị cắt đất lúa, chỉ còn đất rau xanh và đất bãi. Thời điểm năm 1993, hộ cụ M có 06 khẩu được cấp đất nông nghiệp (lúa) gồm: Bùi Văn M, Nguyễn Thị Đ, Bùi Đức M2, Bùi Thị T, Bùi Quang T2 và Nguyễn Thị H1 (vợ M2). Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 976.387 ngày 21/10/2015 đứng tên cụ Bùi Văn M và cụ Nguyễn Thị Đ. Như vậy đất nông nghiệp (đất lúa) bà O từ năm 1993 đến nay không có.
Bản án sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ quyết định:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào các Điều 131, 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 164, 165, 166 Bộ luật dân sự năm 2015, điểm đ khoản 1 Điều 12, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim O
Công nhận thỏa thuận của các đương sự về việc ông Bùi Văn M tự nguyện trả lại cho chị Phan Thị Kim O 90m² đất, trong diện tích 542,5m² đất màu và đất rau xanh theo chỉ giới 1, 2, 3, 7, 1. Tại tờ bản đồ số 9. (Có sơ đồ đo vẽ ngày 12/12/2023 kèm theo).
-
[2] Không chấp nhận đề nghị của bà Phan Thị Kim O về việc yêu cầu ông Bùi Văn M phải trả lại 252m² đất trồng lúa trong tổng diện tích 1008m² đất đã cấp cho hộ ông Bùi Văn M.
-
[3] Về chi phí thẩm định, định giá tài sản và đo đạc: Mỗi bên phải chịu ½ chi phí thẩm định, định giá và đo đạc là 5.451.866đ (Năm triệu bốn trăm năm mốt nghìn tám trăm sáu sáu đồng). Xác nhận bà Phan Thị Kim O đã nộp 5.451.866₫ (Năm triệu bốn trăm năm mốt nghìn tám trăm sáu sáu đồng) ông Bùi Văn M phải nộp 2.725.933₫ (Hai triệu, bảy trăm hai mươi lăm nghìn chín trăm ba ba đồng) cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông có trách nhiệm thu của ông Bùi Văn Mã s tiền trên để hoàn trả lại cho bà Phan Thị Kim O.
Bản án còn tuyên về lãi suất, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 02/5/2024, nguyên đơn bà Phan Thị Kim O có đơn kháng, đề nghị sửa bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DSST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, buộc ông M phải trả lại phần đất nông nghiệp diện tích 252m² bà được chia theo khẩu tại thời điểm hộ ông M được giao đất trước năm 1993.
Bà Đinh Thị H - Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà O có quan điểm trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu khởi kiện và đơn kháng cáo của bà O theo đúng quy định của pháp luật và đề nghị miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà O vì bà O thuộc đối tượng được miễn án phí dân sự nên đề nghị miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Tại phiên tòa, bà O vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo của mình.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự:
Xử: Bác đơn kháng cáo của bà Phan Thị Kim O.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DSST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.
Về án phí:
Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Phan Thị Kim O.
(có bài phát biểu chi tiết kèm theo hồ sơ vụ án).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở ý kiến trình bày của các bên đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: Về hình thức, nội dung đơn kháng cáo của bà O thực hiện trong hạn luật định, đơn hợp lệ cần chấp nhận.
[2] Xét về nội dung kháng cáo của bà O đề nghị ông M phải trả lại quyền sử dụng đất nông nghiệp diện tích 252m² thấy rằng:
2.1. Căn cứ quy định tại Điều 6 của Nghị định số 64/CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 của Chính phủ (Nghị định 64) quy định: Đối tượng được giao đất nông nghiệp để sử dụng ổn định lâu dài là nhân khẩu nông nghiệp thường trú tại địa phương, kể cả những người đang làm nghĩa vụ quân sự”.
2.2. Căn cứ tại khoản 2 Điều 2 của Quyết định số 159/QĐ-UB ngày 08 tháng 02 năm 1994 của Ủy ban nhân dân tỉnh V (Quyết định 159) quy định:
“2. Thời điểm tính số nhân khẩu để giao đất:
a. Đối với những xã chưa thực hiện quyết định số 450/QĐ-UB ngày 19/5/1992 của UBND tỉnh thì tính số nhân khẩu tại thời điểm 15/10/1993 và thực hiện chia đất theo nghị định 64.
b. Đối với những xã thực hiện theo quyết định 450/QĐ-UB thì thực hiện theo những điểm bổ sung sửa đổi như sau: Diện tích đất giao theo nhân khẩu tại thời điểm 01/4/1992 thì giữ ổn định. Số nhân khẩu phát sinh từ ngày 01/4/1992 đến ngày 15/10/1993 (kể cả khẩu tăng thêm thuộc các đối tượng quy định tại Nghị định 64) thì sau khi trừ quỹ đất công 5%, số đất khoán thầu còn lại (theo Quyết định 450) chia cho số nhân khẩu phát sinh này. Được bao nhiêu thì hưởng bấy nhiêu (nếu nhỏ hơn mức bình quân thời điểm 1/4/1992), nếu còn thừa so với mức bình quân thời điểm 1/4/1992 thì chia đều cho tổng số nhân khẩu. (trường hợp còn thừa quá ít thì có thể nhập vào quỹ đất công ích của xã).
Trường hợp người được chia theo quyết định 450, nay đã chết thì giữ ổn định, không thu lại.
Về mức giao đất được điều chỉnh lại thống nhất theo Nghị định 64/CP. Thời điểm, thời hạn giao đất được tính thống nhất từ ngày 15/10/1993".
2.3. Căn cứ quan điểm của UBND xã D cung cấp: Năm 1993, điều chỉnh lại ruộng đất, lúc này bà O và ông Đ1 không có mặt tại địa phương nên bị cắt mất đất lúa, chỉ còn đất rau xanh và đất bãi nên bà O không được giao lại đất nông nghiệp trong khẩu của cụ M từ năm 1993 đến nay.
Từ căn cứ quy định tại Nghị định số 64, Quyết định số 159 và quan điểm của UBND xã D trích dẫn ở trên thấy rằng:
Mặc dù từ trước năm 1990, hộ cụ M cùng các hộ gia đình khác đều được giao đất nông nghiệp (đất rau xanh, đất màu và đất trồng lúa) để sử dụng, trong đó hộ gia đình cụ M có 7 người được chia đất nông nghiệp gồm: Vợ chồng cụ Bùi Văn M và cụ Nguyễn Thị Đ và các con của hai cụ là Bùi Hữu Đ1 (tức Bùi Văn M1), Bùi Đức M2, Bùi Thị T, Bùi Quang T2 và con dâu cụ M, cụ Đ là Phan Thị Kim O (là vợ ông Đ1). Tuy nhiên, khi thực hiện Nghị định 64 và Quyết định số 159 thì các địa phương, trong đó có xã D phải căn cứ vào nhân khẩu đang sản xuất nông nghiệp kê khai, thống kê tại địa phương tại thời điểm từ ngày 01/4/1992, đến ngày 15/10/1993 làm căn cứ để điều chỉnh chia lại đất nông nghiệp. Trong khi đó, bà O, ông Đ1 đều thừa nhận ông bà đã đi khỏi địa phương từ năm 1990, đến năm 1997 bà O mới về thăm quê lần đầu kể từ thời điểm bà O đi khỏi địa phương năm 1990.
Như vậy, tại thời điểm ngày 01/4/1992 khi UBND xã D kê khai nhân khẩu trong thời gian từ ngày 01/4/1992 đến thời điểm ngày 15/10/1993, làm căn cứ giao lại quyền sử dụng đất nông nghiệp, thì bà O và ông Đ1 đều không ở địa phương đã quá 06 tháng, không trực tiếp sản xuất nông nghiệp, nên khi kê khai nhân khẩu để chia lại ruộng đất, bà O, ông M bị loại khỏi danh sách được thống kê để chia lại đất nông nghiệp, như quan điểm của UBND xã D là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Nghị định số 64; Quyết định số 159 đã quy định.
2.4. Bà O cho rằng, bà đi khỏi địa phương nhưng vẫn có hộ khẩu tại địa phương, tại hộ gia đình cụ M, đến năm 1998 bà mới chuyển khẩu đến thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau, được công an xã xác nhận để chứng minh từ trước năm 1998 trở về trước bà vẫn có khẩu tại xã D nên không bị chính quyền địa phương lấy đất nông nghiệp ra để chia lại làm căn cứ đòi quyền sử dụng đất thấy rằng:
Căn cứ Quyết định số 159 hướng dẫn Nghị định số 64 quy định: “...Diện tích đất giao theo nhân khẩu tại thời điểm 01/4/1992 thì giữ ổn định. Số nhân khẩu phát sinh từ ngày 01/4/1992 đến ngày 15/10/1993 (kể cả khẩu tăng thêm thuộc các đối tượng quy định tại Nghị định 64/CP) thì sau khi trừ quỹ đất công 5%, số đất khoán thầu còn lại (theo Quyết định 450) chia cho số nhân khẩu phát sinh này”. Căn cứ quy định nêu trên thể hiện rõ, thời điểm xác định lại nhân khẩu có mặt tại địa phương làm căn cứ giao lại đất nông nghiệp, thời gian tính từ thời điểm thống kê nhân khẩu, mốc thời gian ngày 01/4/1992. Trong khi đó, bà O và ông M1 đều thừa nhận đã đi khỏi địa phương từ năm 1990 nên không thể được giao đất tại thời điểm ngày 01/4/1992; phù hợp quan điểm của người làm chứng ông Nguyễn Văn N1 (cán bộ địa chính xã thời điểm năm 1984 đến 2019) và quan điểm của UBND xã D. Nên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu đòi lại quyền sử dụng 252m² đất nông nghiệp của bà O đối với cụ M được.
Từ những căn cứ và phân tích nêu tại mục 2.1, 2.2, 2.3 và 2.4 mục [2] nêu trên thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đã xét xử bác yêu cầu khởi kiện của bà O đòi cụ M phải trả lại quyền sử dụng 252m² đất nông nghiệp là có căn cứ, đúng pháp luật. Vì vậy, phải bác kháng cáo của bà O, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.
[3] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bà O không được chấp nhận nên bà O phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Nhưng bà O là người khuyết tật, xin miễn án phí nên miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà O.
[4] Về quan điểm việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
-
Không chấp nhận kháng cáo của bà Phan Thị Kim O.
-
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.
-
Về án phí dân sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Phan Thị Kim O.
-
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo và kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Hán Hưởng |
Bản án số 70/2024/DS-PT ngày 09/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 70/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thị Kim O - Bùi Văn M - Tranh chấp quyền sử dụng đất
