|
TÒA ÁN NHÂN DÂN T.P PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 70/2024/HSST Ngày 09/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Hải;
2. Bà Nguyễn Thị Thanh.
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thương Thương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Cúc- Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2024/TLST-HS ngày 02/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXX ngày 24/4/2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Việt H; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 2005;
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố F, phường M, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không. Con ông Nguyễn Văn V và bà La Thị Thu H1 (đã ly hôn); Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/01/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Có mặt tại phiên toà.
* Bị hại: Anh Hà Văn C, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ dân phố M, phường H, TP P, tỉnh Thái Nguyên.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đức M, sinh năm 1991; Địa chỉ: Tổ A, phường M, TP S, tỉnh Thái Nguyên.
(anh C, anh M có mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 23 giờ 10 phút, ngày 11/01/2024, Nguyễn Việt H nảy sinh ý định tìm đến các cửa hàng điện thoại tại khu vực phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên để vào giả vờ vào hỏi mua điện thoại rồi tiếp cận tài sản để chiếm đoạt và nhanh chóng bỏ trốn. Đến khoảng 23 giờ 17 phút cùng ngày, H một mình đi bộ vào cửa hàng V1 có địa chỉ ở tổ dân phố G, phường H, thành phố P thì gặp anh Hà Văn C là chủ cửa hàng. H hỏi anh C cho xem điện thoại để mua thì anh C đưa cho H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu trắng, dung lượng bộ nhớ 128GB và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax, màu vàng, dung lượng bộ nhớ 64GB đều đã qua sử dụng. H hỏi giá của hai chiếc điện thoại trên thì anh C báo giá chiếc điện thoại Iphone 12 Promax, màu trắng có giá 12.700.000 đồng, còn chiếc Iphone Xsmax, màu vàng có giá 6.100.000 đồng và có phụ kiện kèm theo điện thoại. H cầm 02 chiếc điện thoại lên xem và kiểm tra trong khoảng 20 phút rồi giả vờ đồng ý mua hai chiếc điện thoại này. H nói với anh C là trả tiền bằng hình thức chuyển khoản. Sau đó, lợi dụng lúc anh C chờ H chuyển khoản và không để ý, H cầm hai chiếc điện thoại nêu trên nhanh chóng bỏ chạy ra ngoài đường về hướng thành phố S, anh C đuổi theo nhưng không kịp. Đến sáng ngày 12/01/2024, H đem chiếc điện thoại Iphone 12 Promax, màu trắng đã chiếm đoạt được đến cửa hàng điện thoại “24h, phụ kiện 24h” có địa chỉ tại tổ A, phường M, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên bán cho anh Nguyễn Đức M là chủ cửa hàng với số tiền 10.200.000 đồng. Số tiền bán được điện thoại H đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Đối với chiếc điện thoại di động Iphone Xsmax, màu vàng, H vẫn cầm để sử dụng. Ngày 12/01/2024, anh C đã trình báo vụ việc đồng thời giao nộp 01 USB ghi lại hình ảnh của Nguyễn Việt H cho Công an phường H. Cùng ngày Công an phường H đã bàn giao hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để giải quyết theo thẩm quyền.
Qua xác minh, ngày 12/01/2024 Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập Nguyễn Việt H đến làm việc, H đã thừa nhận hành vi chiếm đoạt tài sản của mình tại cửa hàng V1 đồng thời giao nộp 01 chiếc điện thoại Iphone Xsmax, màu vàng, dung lượng 64GB cho Cơ quan điều tra. Cùng ngày 12/01/2024, Cơ quan điều tra làm việc với anh Nguyễn Đức M, anh M đã giao nộp 01 chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax, màu trắng, dung lượng 128GB đã mua của H và 01 USB ghi lại hình ảnh có liên quan tại cửa hàng điện thoại “24h, phụ kiện 24h".
Cơ quan điều tra tiến hành mở camera an ninh thu được tại cửa hàng V1 và xác định được vào thời điểm 23 giờ 17 phút 10 giây ngày 11/01/2024 có một thanh niên mặc áo khoác màu đen, đội mũ áo khoác, mặc quần bò đen, đi dép lê có đến cửa hàng điện thoại Vân Dương I sau đó ngồi xem điện thoại, đến 23 giờ 49 phút 12 giây cùng ngày thì thanh niên này bỏ chạy ra ngoài đường. Theo H xác định: hình ảnh người thanh niên mặc áo đen trong đoạn camera trên chính là H, H đến cửa hàng V1 hỏi mua 02 chiếc điện thoại rồi lợi dụng sự sơ hở của chủ cửa hàng H đã chiếm đoạt 02 chiếc điện thoại và bỏ chạy.
Tiến hành kiểm tra camera an ninh thu được tại cửa hàng điện thoại “24h, phụ kiện 24h” tại tổ A, phường M, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên xác định được: hồi 10 giờ 41 phút 48 giây ngày 12/01/2024 có 01 thanh niên mặc áo khoác màu đen có mũ liền áo, có nhiều vệt trắng ở trước ngực áo đến cửa hàng điện thoại “24h,
phụ điện 24h” và bán cho anh M 01 điện thoại 12 Promax màu trắng với giá 10.200.000 đồng. H xác định: người thanh niên trên chính là H, mục đích H đến cửa hàng này để bán chiếc điện thoại Iphone 12 Promax mà H đã chiếm đoạt được tại cửa hàng V1 ngày 11/01/2023.
Tại bản Kết luận định giá số 05/KLĐG ngày 12/01/2024 của Hội đồng định giá thành phố P kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu trắng, dung lượng 128GB, điện thoại đã qua sử dụng, hiện trạng điện thoại vẫn còn nguyên vẹn và hoạt động bình thường, giá trị còn lại của điện thoại là 14.500.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max, màu vàng, dung lượng 64GB, điện thoại đã qua sử dụng, hiện trạng điện thoại vẫn còn nguyên vẹn và hoạt động bình thường, giá trị còn lại của điện thoại là 6.500.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, Nguyễn Việt H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của H phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng vụ án: 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 Promax, màu trắng, dung lượng 128GB và 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone Xsmax, màu vàng, dung lượng 64GB đã qua sử dụng là tài sản của anh Hà Văn C bị H chiếm đoạt vào ngày 11/01/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh C để quản lý, sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Anh C đã nhận lại được tài sản và không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự. Anh M yêu cầu Hoàng p trả lại cho anh M số tiền 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng).
Sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày bản luận tội:
Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng. Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo H từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Buộc bị cáo Nguyễn Việt H có trách nhiệm hoàn trả cho anh Nguyễn Đức M số tiền 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng) là tiền điện thoại anh M đã trả cho bị cáo H, đến nay điện thoại đã bị thu hồi.
Về xử lý vật chứng: 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 Promax, màu trắng, dung lượng 128GB và 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone Xsmax, màu vàng, dung lượng 64GB đã qua sử dụng là tài sản của anh Hà Văn C bị H chiếm đoạt vào ngày 11/01/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh C để quản lý, sử dụng.
Về án phí và quyền kháng cáo: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Kết thúc phần tranh tụng: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không đưa ra quan điểm đối đáp, tranh luận gì, nhất trí với bản Luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị hại cơ bản nhất trí với Luận tội của đại diện Viện kiểm sát, về hình phạt, bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo do tuổi đời còn trẻ, hoàn cảnh gia đình éo le, bố mẹ đã ly hôn không có sự quản lý giáo dục sát sao đúng mức, đề nghị cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất theo khung đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là 24 tháng tù.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin lỗi bị hại, bị cáo đã thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra vụ án, các quyết định và các hành vi tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện là đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tất cả các Quyết định tố tụng trong vụ án đều được lập, giao nhận cho những người tham gia tố tụng theo đúng trình tự pháp luật quy định. Các tài liệu, chứng cứ đã thu thập đều phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án, phù hợp với diễn biến của phiên tòa và có đủ cơ sở để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã thu thập. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 23 giờ 49 phút ngày 11/01/2024, Nguyễn Việt H đến cửa hàng V1 thuộc tổ dân phố G, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giả vờ hỏi mua của anh Hà Văn C (là chủ cửa hàng điện thoại) 01 chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax, màu trắng trị giá 14.500.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động Iphone Xsmax, màu vàng trị giá 6.500.000 đồng. Quá trình trao đổi mua bán, lợi dụng anh C không để ý H đã chiếm đoạt 02 chiếc điện thoại trên rồi nhanh chóng bỏ chạy để tẩu thoát. Đến ngày 12/01/2024, H đã mang bán 01 chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax, màu trắng cho anh Nguyễn Đức M với giá 10.200.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết. Tổng giá trị tài sản mà H đã chiếm đoạt của anh C là 21.000.000 đồng. Về dân sự, anh C không có yêu cầu, anh M yêu cầu H trả lại cho anh M số tiền 10.200.000 đồng.
Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự. Do đó, bản Cáo trạng số: 58/CT-VKSPY ngày 02/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên truy tố bị cáo Nguyễn Việt H về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ.
Điều 171 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm..."
[3]. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức, được pháp luật hình sự bảo vệ, thể hiện sự coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương và bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử bằng pháp luật hình sự là cần thiết, nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, từ nhỏ được gia đình nuôi ăn học đến hết lớp 12/12, sau đó làm lao động tự do tại địa phương, là người có nhân thân tốt.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, Do vậy, bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Tại phiên toà, bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên xét cho bị cáo được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4]. Về hình phạt: Bị cáo tuổi đời còn trẻ nhưng ham chơi, lười lao động, để có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu tài sản để chiếm đoạt tài sản với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật. Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn một thời gian nhất định mới đủ cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo còn trẻ tuổi, có hoàn cảnh gia đình phức tạp (bố mẹ ly hôn, đang sống cùng ông nội, thiếu sự quan tâm chăm sóc và giáo dục trực tiếp của cha mẹ, mới học xong trung học phổ thông đã phải đi làm nghề shipper (giao hàng) để kiếm sống, nuôi bản thân, điều đó phần nào ảnh hưởng đến nhận thức lệch lạc của bị cáo dẫn tới việc thực hiện hành vi phạm tội. Cũng vì lẽ đó mà bị hại thấu hiểu, chia sẻ và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo để bị cáo có cơ hội cải tạo để trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy, mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên toà và lời đề nghị của bị hại về việc xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo ở mức thấp nhất theo khung đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, cần được chấp nhận.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại anh Hà Văn C đã được nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt là 02 chiếc điện thoại di động (Iphone
12 Promax và Iphone X), anh C không có yêu cầu, đề nghị gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đức M yêu cầu bị cáo H có trách nhiệm hoàn trả cho anh số tiền 10.200.000 đồng là tiền anh M đã trả cho H để mua lại chiếc điện thoại Iphone 12 Promax. Bị cáo H cũng thừa nhận việc này. Xét thấy, bị cáo H là người trưởng thành (đủ 18 tuổi), có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có nghĩa vụ tự mình bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại. Yêu cầu của anh M là phù hợp, có căn cứ, cần được chấp nhận. Do vậy, cần buộc bị cáo Nguyễn Việt H có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Đức M số tiền 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng).
[7]. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 Promax, màu trắng, dung lượng 128GB và 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone Xsmax, màu vàng, dung lượng 64GB đã qua sử dụng là tài sản của anh Hà Văn C bị H chiếm đoạt vào ngày 11/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp quản lý, sử dụng là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8]. Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Việt H phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước; Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9]. Về vấn đề khác: Trong vụ án này, anh Nguyễn Đức M là người mua chiếc điện thoại Iphone 12 Promax của H nhưng anh M không biết nguồn gốc chiếc điện thoại nói trên do H phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh M là phù hợp.
[10]. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về các vấn đề trong vụ án là có căn cứ, cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 329, Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Việt H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
-
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 12/01/2024.
Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
-
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt, không có đề nghị gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Áp dụng các Điều 357, 468, 584; 585; 586 và 589 của Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Việt H có nghĩa vụ hoàn trả cho anh Nguyễn Đức M số tiền 10.200.000đ (Mười triệu hai trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
-
Về án phí: Áp dụng Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Việt H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 510.000 đồng (Năm trăm mười nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch nộp ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Các bị hại/đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thị Dung |
Bản án số 70/2024/HSST ngày 09/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm (cướp giật tài sản)
- Số bản án: 70/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cướp giật tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Việt H bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản
