Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÀU BÀNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 70/2024/HS-ST

Ngày: 08-7-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Duy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Đoàn Minh Phúc;
  • Ông Nguyễn Long Giang.

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng tham gia phiên tòa: Bà Võ Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 50/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST–HS ngày 27 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Phùng Văn V, sinh năm 1998 tại Cao Bằng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn A, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; trình độ văn hóa: 7/12; nghề nghiệp: công nhân; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Phùng Anh K (đã chết) và bà Hoàng Thị S; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 20/01/2024 và tạm giam cho đến nay; có mặt.

2. Nguyễn Thanh H, sinh năm 1999 tại Bạc Liêu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp K, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau; trình độ văn hóa: 8/12; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn P và bà Phan Thị H1; vợ tên Lê Thị N và 01 con; tiền án: ngày 20/5/2020, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 86/2020/HSST; tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 21/01/2024 và tạm giam cho đến nay; có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Tô Văn H2, sinh năm 2005; địa chỉ: thôn A, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ giữa năm 2023, Phùng Văn V và Nguyễn Thanh H là những người sử dụng ma túy tổng hợp dạng đá bằng hình thức hút. Khoảng tháng 11/2023, thông qua ứng dụng zalo 02 đối tượng quen nhau và qua nói chuyện cả hai đều biết nhau có sử dụng ma túy. Do đó, V nghĩ H có ma túy nên đã chủ động hỏi mua 02 đến 03 lần nhưng H không có ma túy để bán cho V. Khoảng 20 giờ ngày 20/01/2024, Phùng Văn V dùng zalo của mình tên “Anh V” liên lạc với Nguyễn Thanh H qua zalo tên “Hoàng N1” hỏi mua 300.000 đồng ma túy thì H đồng ý bán nhưng do không có ma túy nên H liên lạc với một đối tượng tên H3 (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 300.000 đồng ma túy thì Hòa đồng ý bán và hẹn H đến gần khu vực quán C1 thuộc khu phố B, thị trấn L, huyện B. Sau đó, H gọi lại cho V nói lấy tiền trước thì V đồng ý và hẹn H chạy xuống gần phòng trọ của V ở đường N thuộc tổ D, ấp C, xã L, huyện B để lấy tiền. Khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày, H đến địa điểm trên gặp V lấy 300.000 đồng để đi mua ma túy và hẹn V khi nào có ma túy sẽ đưa ma túy cho V. Sau khi nhận 300.000 từ V, H đổ xăng hết 40.000 đồng rồi chạy đến bãi đất trống ở phía sau khu vực quán C1 gặp H3 đưa 260.000 đồng thì H3 bán cho 01 gói ma túy đựng trong gói nilon hàn kín (được cuốn trong miếng khăn giấy vệ sinh màu trắng) do H3 cất dấu trên lề đường gần đó. Nhận được ma túy, H gọi lại cho V hẹn đến cuối đường N thuộc khu phố B, thị trấn L, huyện B để nhận ma túy thì V đồng ý. Do không có xe nên V liên lạc với Tô Văn H2 rủ đi uống cà phê thì H2 đồng ý. Đến khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày, H2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria màu nâu đen biển số: 47P1-335.85 đến phòng trọ của V rồi V chở H2 đi đến đường N- 5B để gặp H nhận ma túy. Khi đến nơi, V đợi khoảng 05 phút thì H đi xe mô tô hiệu Wave màu xám (không nhớ biển số) chạy lại đưa cho V 01 gói ma túy đựng trong gói nilon hàn kín. Xong H đi ra cổng KCN B trả xe cho một người bạn tên T (không rõ lai lịch, chỉ biết ở trọ gần cổng KCN B) rồi về phòng trọ của mình. Còn V sau khi nhận gói ma túy thì cất vào giữa ví da rồi để trong túi đeo chéo ngang người. Khoảng 21 giờ 40 phút cùng ngày, V điều khiển xe chở H2 đi đến đoạn đường N thuộc khu phố B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng Công an dừng xe kiểm tra hành chính. Khi V mở bóp da lấy giấy tờ thì làm rơi xuống vỉa hè 01 gói ma túy đựng trong gói nilon hàn kín. Lực lượng đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phùng Văn V đồng thời phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thanh H.

Vật chứng tạm giữ:

  • - 01 gói ma túy đựng trong gói nilon hàn kín;
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria biển số: 47P1-33585, số máy: CGA1617333, số khung: MH8DL11ANNJ116957;
  • - 01 điện thoại di động hiệu OPPO A53 màu xanh thu của Phùng Văn V.
  • - 01 điện thoại hiệu OPPO f5 màu đồng thu của Nguyễn Thanh H.
  • - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm chai nhựa có nắp đục hai lỗ gắn ống hút, ống thủy tinh dùng để sử dụng ma túy thu của Nguyễn Thanh H.

Ngày 21/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu giám định số: 121/QĐ, trưng cầu Phòng K1 - Công an tỉnh B giám định thành phần và trọng lượng chất tinh thể màu trắng đã thu giữ trong vụ án.

Ngày 26/01/2024, Phòng K1 - Công an tỉnh B ra kết luận giám định số: 590(630)/KL-KTHS(MT), kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng, gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,1012 gam.

Quá trình điều tra xác định:

  • - Phùng Văn V đã mua của Nguyễn Thanh H 01 gói ma túy tổng hợp với giá 300.000 đồng vào tối ngày 20/01/2024 nhằm mục đích sử dụng. Việc mua gói ma túy trên, V không trao đổi bàn bạc gì trước với Tô Văn H2. Mục đích V rủ H2 đi chung là do không có xe. Trong quá trình mua bán ma túy với H, V không cho H2 biết. Đây là lần đầu tiên V mua được ma túy của H.

  • - Nguyễn Thanh H đã bán cho Phùng Văn V 01 gói ma túy tổng hợp với giá 300.000 đồng vào tối ngày 20/01/2024 nhằm hưởng lợi. Trong việc mua bán ma túy trên, sau khi V đặt vấn đề mua 300.000 đồng ma túy thì H đồng ý và liên hệ với đối tượng tên H3 để đặt mua ma túy. H nhận thực tế của V số tiền 300.000 đồng nhưng chỉ mua gói ma túy với giá 260.000 đồng nhằm mục đích hưởng hưởng số tiền chênh lệch 40.000 đồng (đã dùng đổ xăng). Đây là lần đầu tiên H bán ma túy cho V. Về người bán ma túy do H quen biết thông qua bạn bè xã hội khoảng khoảng 01 tháng rồi kết bạn zalo với nhau. H không biết lai lịch, chỗ ở cụ thể mà chỉ nghe nói H3 ở trọ trong khu công nghiệp B. Trong thời gian quen biết, H biết H3 sử dụng ma túy và nghĩ H3 có bán ma túy nên ngày 20/01/2024 khi V hỏi mua ma túy thì H nhớ và gọi hỏi H3 mua lại để sử dụng thì Hòa đồng ý bán. H liên lạc với H3 bằng Z nhưng chỉ nhớ tên zalo của H3 có thêm kí tự phía sau nhưng không nhớ cụ thể. Tối ngày 20/01/2024, sau khi bán ma túy cho V xong do biết V bị bắt nên H đã thoát zalo, đổi tên. Đến khi bị bắt vào sáng ngày 21/01/2024, H có phối hợp Cơ quan điều tra tìm thông tin của H3 thì không thấy do H3 đã hủy kết bạn và chặn tìm kiếm trên ứng dụng zalo.

  • - Tô Văn H2 được Phùng Văn V gọi rủ đi uống cafe. Khi H2 đến phòng trọ thì V điều khiển xe chở H2 đến đường N dừng xe ở đây. H2 hỏi V “đứng đợi ai” thì V nói “đợi thằng kia đưa đồ” nhưng không hỏi thêm là đồ gì nên không biết đó là ma túy. Việc H đưa cho V 01 gói ma túy H2 có nhìn thấy nhưng không rõ cụ thể là gì cùng không phụ giúp hay góp tiền trong việc mua gói ma túy trên. Bản thân H2 cũng không sử dụng ma túy (có kết quả test âm tính ngày 21/01/2024). Lời khai của Phùng Văn V, Nguyễn Thanh H và Tô Văn H2 phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Đối với người tên H3 ở khu vực ngã tư quán cafe Đ bán ma túy cho bị can Nguyễn Thanh H vào tối ngày 20/01/2024 đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch và vai trò, trách nhiệm trong vụ án.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria biển số: 47P1-33585, số máy: CGA1617333, số khung: MH8DL11ANNJ116957 là phương tiện trong vụ án do ông Y Trương N2 đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc, ông N2 xác nhận đã bán chiếc xe trên cho Tô Văn H2 vào đầu tháng 02/2024 với 25.000.000 đồng có làm hợp đồng mua bán công chứng tại UBND thị trấn E. Sau khi mua xong, H2 chưa làm thủ tục sang tên. Tối ngày 20/01/2024, H2 cùng V đi mua ma túy sau đó bị bắt. Việc V dùng xe của mình đi mua ma túy H2 không biết. Do đó, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho H2.

Cáo trạng số 49/CT–VKSBB ngày 13/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo Phùng Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Nguyễn Thanh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt:

  • + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phùng Văn V mức hình phạt từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  • + Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H mức hình phạt từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về biện pháp tư pháp:

  • + Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 590/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong QĐTC giám định số 121/QĐ-ĐCKTMT ngày 21/01/2024 của cơ quan CSĐT Công an huyện B, tỉnh Bình Dương) có chữ ký và hình dấu đỏ như trong bên biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Phùng Văn V (người chứng kiến), Đoàn Nguyễn Thiện Q (bên giao mẫu), Lê Văn C (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS. Bên trong còn lại 0,0769 gam, ma túy loại Methamphetamine là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm chai nhựa (Nutri boost) có nắp màu đỏ đục hai lỗ gắn ống hút, ống thủy tinh dùng để sử dụng ma túy thu của H (đã qua sử dụng) là vật chứng của vụ án.

  • + Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A53 màu xanh, số Imeil 1: 864326055973691, số Imeil 2: 86326055973683 thu của V (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F5 màu đồng, số Imeil 1: 867453032734272, số Imeil 2: 867453032734264 thu của H (đã qua sử dụng) là công cụ thực hiện hành vi phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng qua phần tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và nội dung luận tội.

Tại phiên tòa, các bị cáo thống nhất toàn bộ nội dung truy tố, luận tội và không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo biết hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng với quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản niêm phong, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 20/01/2024, bị cáo Phùng Văn V có hành vi sử dụng ứng dụng Zalo để liên lạc mua của bị cáo Nguyễn Thanh H 01 gói ma túy có trọng lượng 0,1012 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Bị cáo Nguyễn Thanh H có hành vi bán cho bị cáo Phùng Văn V 01 gói ma túy có trọng lượng 0,1012 gam, loại Methamphetamine với giá 300.000 đồng nhằm hưởng lợi bất chính. Do đó, hành vi của bị cáo Phùng Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vây, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi mà các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nha nước đối với chất ma túy. Hiện nay, tình hình nghiện hút chất ma túy đang diễn ra phức tạp trong mọi tầng lớp. Tệ nạn này là mối quan tâm của toàn xã hội, một trong những nguyên nhân dẫn đến tệ nạn này chưa được đẩy lùi chính là có sự tiếp tay của các bị cáo. Do đó, để có tác dụng giáo dục các bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thanh H có 01 tiền án, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo Phùng Văn V là người dân tộc thiểu số. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ phạm tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về biện pháp tư pháp:

  • + Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 590/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong QĐTC giám định số 121/QĐ-ĐCKTMT ngày 21/01/2024 của cơ quan CSĐT Công an huyện B, tỉnh Bình Dương) có chữ ký và hình dấu đỏ như trong bên biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Phùng Văn V (người chứng kiến), Đoàn Nguyễn Thiện Q (bên giao mẫu), Lê Văn C (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS. Bên trong còn lại 0,0769 gam, ma túy loại Methamphetamine là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm chai nhựa (Nutri boost) có nắp màu đỏ đục hai lỗ gắn ống hút, ống thủy tinh dùng để sử dụng ma túy thu của H (đã qua sử dụng) là vật chứng của vụ án.

  • + Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A53 màu xanh, số Imeil 1: 864326055973691, số Imeil 2: 86326055973683 thu của V (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F5 màu đồng, số Imeil 1: 867453032734272, số Imeil 2: 867453032734264 thu của H (đã qua sử dụng) là công cụ thực hiện hành vi phạm tội.

[8] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phùng Văn V;

Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thanh H;

Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Các Điều 106, Điều 136, Điều 260, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

  1. Về trách nhiệm hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Phùng Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:

    1. Xử phạt bị cáo Phùng Văn V 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/01/2024.
    2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/01/2024.
  3. Về biện pháp tư pháp:

    • + Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 590/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong QĐTC giám định số 121/QĐ-ĐCKTMT ngày 21/01/2024 của cơ quan CSĐT Công an huyện B, tỉnh Bình Dương) có chữ ký và hình dấu đỏ như trong bên biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Phùng Văn V (người chứng kiến), Đoàn Nguyễn Thiện Q (bên giao mẫu), Lê Văn C (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS. Bên trong còn lại 0,0769 gam, ma túy loại Methamphetamine, 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm chai nhựa (Nutri boost) có nắp màu đỏ đục hai lỗ gắn ống hút, ống thủy tinh dùng để sử dụng ma túy thu của H (đã qua sử dụng).

    • + Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A53 màu xanh, số Imeil 1: 864326055973691, số Imeil 2: 86326055973683 thu của V (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F5 màu đồng, số Imeil 1: 867453032734272, số Imeil 2: 867453032734264 thu của H (đã qua sử dụng).

    (Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/5/2024 giữa Công an huyện B – Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng).

  4. Về án phí:

    Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Bàu Bàng;
  • - Công an huyện Bàu Bàng;
  • - Chi cục THADS huyện Bàu Bàng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án (nếu có);
  • - Lưu: HS, Tòa.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Duy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vụ án hình sự về tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 70/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger