Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 08/5/2024

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trương Thành Tuấn;
  2. Ông Nguyễn Nhựt Thảo.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà:

Bà Trần Thị Mỹ Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2024/QĐXX-ST ngày 15 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Trần Kiều H, sinh năm 1991; (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
  2. Nơi cư trú: tổ A, khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang.

    SĐT: 0352.586.xxx

  3. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1986; (có mặt)
  4. Nơi cư trú: tổ A, khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang.

    SĐT: 0396.632.xxx

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn chị Trần Kiều H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Nguyễn Thanh T do mai mối tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại xã T, huyện P, tỉnh An Giang. Cuộc sống hôn nhân lúc đầu hạnh phúc, tuy gia đình không khá giả nhưng vợ

chồng vẫn lo làm ăn để chăm lo cuộc sống gia đình. Sau đó, xảy ra mâu thuẫn. Mâu thuẫn giữa chị và anh T rất nhiều lần, cụ thể từ tháng 11/2022 anh T không chịu lo làm ăn, chị đi làm ở khu công nghiệp B nên nuôi gia đình, nhưng anh T nhậu nhẹt, kiếm chuyện ghen tuông vô cớ, chửi bới chị nhiều lần, nhiều lần lấy dao rượt chém chị, làm tâm lý chị hoang mang, sợ sệt. Đỉnh điểm mâu thuẫn là vào ngày 02/12/2023, anh T nhậu nhẹt, chửi chị, mài dao tính rượt chém chị, con chị kêu chị chạy trốn đi, chị bỏ về nhà cậu mợ cách nhà chị khoảng 20m để lánh nạn. Từ đó, chị bỏ đi làm ở Bình Dương kiếm tiền nuôi con đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh T.

- Về quan hệ con chung: có 02 con chung tên là: Nguyễn Minh K, sinh ngày 06/5/2009 và Nguyễn Thị Tố T1, sinh ngày 09/10/2017. Hiện 02 cháu K và Tố T1 đang sống với anh T. Sau khi ly hôn chị đồng ý giao 02 con cho anh T nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con, nhưng chị sẽ gửi tiền về lo cho 02 con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Thanh T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: anh và chị H do mai mối tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, vợ chồng đi làm ở Bình Dương sống, sau đó năm 2022 thì về quê làm. Sau đó, chị H đòi đi bán quần ở Bình Dương nhưng anh không đồng ý, anh nói cùng nhau làm ở quê lo lắng cho nhau, nhưng chị H không đồng ý. Anh thừa nhận có nhậu nhẹt nhiều lần, có lớn tiếng với chị H. Ngày 02/12/2023 chị H có yêu cầu đi làm ở Bình Dương, anh không đồng ý nên có xảy ra mâu thuẫn lớn, anh có hăm dọa cầm dao chém chị H nếu chị đòi đi làm ở Bình Dương. Dẫn đến chị H bỏ nhà đi từ ngày 02/12/2023 đến nay. Chị H yêu cầu ly hôn anh không đồng ý, do anh còn thương vợ con nên muốn hàn gắn, đoàn tụ.

- Về quan hệ con chung: có 02 con chung tên là: Nguyễn Minh K, sinh ngày 06/5/2009 và Nguyễn Thị Tố T1, sinh ngày 09/10/2017. Hiện 02 cháu K và Tố T1 đang sống với anh. Nếu Tòa giải quyết ly hôn, anh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà,

- Nguyên đơn chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị vẫn giữ yêu cầu khởi kiện.

- Bị đơn anh T trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: anh không đồng ý ly hôn với chị H.

+ Về quan hệ con chung: có 02 con chung như đã trình bày. Hiện 02 cháu K và Tố T1 đang sống với anh. Nếu Tòa giải quyết ly hôn, anh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung và nợ chung: tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

+ Về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Trần Kiều H. Về con chung: cháu Minh K có nguyện vọng sống với cha nếu cha mẹ ly hôn. Xét thầy, từ khi cha mẹ ly thân đến nay, cháu Minh K và Tố Tố sống ổn định với anh T, chị H và anh T cùng thống nhất giao 02 con chung cho anh T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, để đảm bảo cuộc sống của cháu được ổn định, không bị xáo trộn sau khi cha mẹ ly hôn đề nghị Hội đồng xét xử giao 02 cháu Minh K và Tố Tố cho anh T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: đề nghị không đặt ra xem xét. Nguyên đơn chị H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1] Thẩm quyền giải quyết: bị đơn anh Nguyễn Thanh T hiện cư trú tại tổ A, khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

[1.2] Quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn chị Trần Kiều H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thanh T, căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án về tranh chấp ly hôn.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Kiều H thấy:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Nguyên đơn chị Trần Kiều H trình bày chị và anh Nguyễn Thanh T do mai mối tiến đến hôn nhân, vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị H trình bày do anh T không chịu lo làm ăn, nhậu nhẹt, kiếm chuyện ghen tuông vô cớ, chửi bới chị nhiều lần, nhiều lần lấy dao rượt chém chị, làm tâm lý chị hoang mang, lo sợ. Mâu thuẫn đỉnh điểm là vào ngày 02/12/2023, anh T nhậu nhẹt, chửi chị, mài dao tính rượt chém chị. Chị và anh T ly thân từ ngày 02/12/2023 đến nay.

Bị đơn anh Nguyễn Thanh T thừa nhận có nhậu nhẹt nhiều lần, có lớn tiếng với chị H. Ngày 02/12/2023 chị H có yêu cầu đi làm ở Bình Dương, anh không đồng ý nên có xảy ra mâu thuẫn lớn, anh có hăm dọa cầm dao chém chị H nếu chị đòi đi làm ở Bình Dương. Dẫn đến chị H bỏ nhà đi từ ngày 02/12/2023 đến nay.

Xét thấy, giữa chị H và anh T đã có thời gian ly thân từ ngày 02/12/2023 đến nay, nhưng anh chị vẫn không có biện pháp hàn gắn tình cảm. Tại phiên tòa hôm nay, chị H xin vắng mặt và tiếp tục giữ nguyên yêu câu ly hôn với anh T. Anh T2 trình bày từ khi chị H bỏ đi đến nay anh đã nhiều lần hàn gắn với chị H, nhờ gia đình hai bên hàn gắn nhưng chị H vẫn không đồng ý. Tòa án đã nhiều lần mở phiên hòa giải để tạo điều kiện cho chị H, anh T2 đoàn tụ, nhưng chị H vẫn kiên quyết ly hôn.

Điều này cho thấy tình cảm vợ chồng của chị H và anh T2 đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.

[2.2] Về quan hệ con chung: Chị H và anh T2 xác nhận có 02 con chung tên: Nguyễn Minh K, sinh ngày 06/5/2009 và Nguyễn Thị Tố T1, sinh ngày 09/10/2017. Hiện 02 cháu K và Tố T1 đang sống với anh T2. Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 20/3/2024 cháu Minh K có nguyện vọng sống với cha nếu cha mẹ ly hôn. Xét thấy, từ khi ly thân đến nay cháu Minh K và Tố T1 đã sống ổn định với anh T2, chị H cũng đồng ý giao 02 con chung cho anh T2 chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo cuộc sống của 02 cháu Minh K và Tố Tố được ổn định, không bị xáo trộn sau khi cha mẹ ly hôn, nên căn cứ quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao 02 cháu Minh K và Tố Tố cho anh T2 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Anh T2 phải tạo điều kiện thuận lợi cho chị H được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc các con chung không ai cản trở khi chị H thực hiện quyền này.

Về cấp dưỡng nuôi con, anh T2 không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi 02 con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: chị H trình bày tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh T2 trình bày tài sản chung và nợ chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Từ đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét về tài sản chung và nợ chung, trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

[3] Về án phí: Chị Trần Kiều H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0004412 ngày 10/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Kiều H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Kiều H được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.
  2. Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên: Nguyễn Minh K, sinh ngày 06/5/2009 và Nguyễn Thị Tố T1, sinh ngày 09/10/2017. Anh T2 được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu Nguyễn Minh K và Nguyễn Thị Tố T1.

Về cấp dưỡng: chị H không phải cấp dưỡng nuôi các con chung do anh T2 không yêu cầu.

Anh T2 cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở chị H thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 cháu Minh K và Tố Tố.

Nếu chị H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của anh T2 thì anh T2 có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các quy định của pháp luật.

  1. Về tài sản chung và nợ chung: không đặt ra xem xét. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
  2. Về án phí: Chị Trần Kiều H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0004412 ngày 10/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
  3. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Thanh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Trần Kiều H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Tân Hòa, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang;
  • - Phòng KTNV& THA;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Ngô Thị Kim Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HNGĐ-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 70/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn chị Trần Kiều H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thanh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger