Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Án số: 70/2024/HS-ST

Ngày 07 - 5 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Chu Thị Hồng Nhật và ông Nguyễn Xuân Anh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Khánh Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, Toà án nhân dân thành phố Thái Bình mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 65/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2024/QĐXX-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tiến D, sinh ngày 17/4/1978, nơi sinh: Tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn S, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến S (ông S được Nhà nước tặng Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng Ba) và bà Nguyễn Thị Hồng C; ly hôn chị Đỗ Thị L năm 2009 và chưa có con;

Tiền án: 02 tiền án:

  • - Bản án số 26/HSST ngày 13/6/2014 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/3/2019, chấp hành xong án phí ngày 16/5/2015, chấp hành xong hình phạt bổ sung và tiền tịch thu sung Ngân sách Nhà nước ngày 06/8/2018. Chưa xóa án tích.
  • - Bản án số 04/HSST ngày 07/01/2021 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/01/2022, chấp hành xong án phí ngày 22/6/2021. Chưa xóa án tích.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Từ tháng 3/1997 đến tháng 3/2000 tham gia nghĩa vụ quân sự tại L1.
  • - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 280 ngày 28/4/2007 của Công an huyện V, tỉnh Thái Bình xử phạt 500.000 đồng về hành vi đánh bạc, chấp hành xong ngày 04/5/2007.
  • - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 218 ngày 01/7/2008 của Công an huyện V, tỉnh Thái Bình xử phạt cảnh cáo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • - Quyết định số 88 ngày 02/01/2009 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm chữa bệnh - giáo dục - lao động xã hội thành phố T thời hạn 12 tháng về nghiện ma túy.
  • - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 156 ngày 29/04/2010 của Công an huyện Đ, tỉnh Thái Bình xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc, chấp hành xong ngày 03/5/2010.
  • - Quyết định số 2161 ngày 14/9/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Bình áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm chữa bệnh - giáo dục - lao động xã hội thành phố T trong thời hạn 12 tháng vì nghiện ma túy.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/12/2023, tạm giam từ ngày 29/12/2023 đến nay, trích xuất có mặt.

* Người chứng kiến:

  • - Anh Phạm Văn T, sinh năm 1981, nơi cư trú: Số nhà A, ngõ B, đường L, tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình, (vắng mặt).
  • - Ông Lê Thanh T1, sinh năm 1970, nơi cư trú: Số nhà H, đường P, tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 16 giờ 45 phút ngày 23/12/2023, tại đường C thuộc tổ H, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình, tổ công tác của Công an thành phố T phát hiện bị cáo Nguyễn Tiến D có biểu hiện liên quan đến ma túy nên yêu cầu bị cáo dừng lại để kiểm tra. Trước sự chứng kiến của những người chứng kiến, bị cáo D tự giác đưa từ lòng bàn tay trái của bị cáo D 01 túi nilon trong suốt, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục giao nộp cho tổ công tác và khai nhận đó là ma túy, loại Heroine, nguồn gốc của gói ma túy là do trước đó khoảng 16 giờ cùng ngày, tại khu vực cầu S, đường C, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình, bị cáo D mua của một người nam giới khoảng 40 tuổi không biết họ và tên, địa chỉ giá 1.000.000 đồng sau đó bị cáo đi tìm nơi vắng để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang. Tổ công tác niêm phong túi ma tuý vào một phong bì rồi yêu cầu bị cáo D và mời những người chứng kiến về trụ sở Công an phường Q, thành phố T để làm việc. Tại trụ sở Công an phường, tổ công tác kiểm tra người bị cáo D nhưng không phát hiện được gì. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ theo quy định của pháp luật.

Tại bản kết luận giám định số 1875/KL-KTHS ngày 27/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “Mẫu vật quản lý của Nguyễn Tiến D gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 1,7427 gam (Một phẩy bảy nghìn bốn trăm hai mươi bảy gam)”.

Tại cơ quan điều tra những người chứng kiến là anh Phạm Văn T và anh Lê Thanh T1 khai như sau: Khoảng 16 giờ 45 phút, ngày 23/12/2023, tại đường C thuộc tổ H, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình, anh T, anh T1 chứng kiến bị cáo Nguyễn Tiến D tự giác đưa từ lòng bàn trái của bị cáo D ra 01 túi nilon trong suốt, bên trong chất bột màu trắng dạng cục giao nộp cho tổ công tác của Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình và khai nhận đó là ma tuý, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác niêm phong túi ma tuý rồi yêu cầu bị cáo D và mời các anh về trụ sở Công xã phường Q, thành phố T để làm việc. Tại trụ sở Công an phường, tổ công tác kiểm tra người bị cáo nhưng không phát hiện được gì.

Cáo trạng số 71/CT - VKSTPTB ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Tiến D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Tiến D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo.

Kiểm sát viên luận tội: Tại phiên toà không phát sinh tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Kiểm sát viên phân tích nguyên nhân, điều kiện phạm tội, đánh giá chứng cứ, xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Về hình phạt: Áp dụng điểm o khoản 2, khoản 5 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 23/12/2023. Phạt bổ sung bị cáo từ 05 triệu đồng đến 07 triệu đồng.
  • - Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, đề nghị xử lý vật chứng bằng hình thức: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo hoàn lại sau giám định;
  • - Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tiến D phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Tiến D xác định cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên bị cáo không trình bày lời bào chữa, không trình bày ý kiến tranh luận về tội danh, mức hình phạt và các nội dung khác do Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa. Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Các tài liệu, chứng cứ do Điều tra viên và Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật và đó là các tài liệu, chứng cứ hợp pháp chứng minh cho hành vi phạm tội của bị cáo. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên bị cáo không khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng.

[2] Căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại cơ quan điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với Cáo trạng đã truy tố, đồng thời còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Bản Kết luận giám định; Lời khai của người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh về hành vi phạm tội của bị cáo thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hồi 16 giờ 45 phút, ngày 23/12/2023, tại đường C thuộc tổ H, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang bị cáo Nguyễn tiến D1 có hành vi tàng trữ trái phép trên người của bị cáo 01 túi ma túy, loại Heroine, có khối lượng 1,7427 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình bắt quả tang. Bị cáo đã nhiều lần bị Toà án đưa ra xét xử và áp dụng hình phạt về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, nên bị cáo hiểu rất rõ các tác hại do ma túy gây ra và hiểu rất rõ các quy định của pháp luật về việc nghiêm cấm đối với mọi hành vi liên quan đến ma túy, nhưng do thiếu ý thức rèn luyện nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Tại bản án số 26/HSST ngày 13/6/2014 bị cáo bị xử phạt 07 năm tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/3/2019 và bản án số 04/HSST ngày 07/01/2021 bị cáo bị xử phạt 18 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/01/2022, cả 02 bản án này đều chưa được xoá án, khi về địa phương bị cáo lại tiếp tục phạm tội, do đó, hành vi phạm tội của bị cáo bị đưa ra xét xử lần này phù hợp với tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Điều 249 - Tội tàng trữ trái phép chất ma túy: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ... 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: a) ...o) Tái phạm nguy hiểm. ... 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”. Như vậy, hành vi của bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt của Điều luật là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là nhẹ so với hành vi phạm tội của bị cáo.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy là nguy hiểm cho xã hội, vì hành vi đó đã cố ý xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy, đe dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe của con người cũng như ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo nhiều lần bị các Toà án xét xử, áp dụng hình phạt về cùng tội nhưng không tiếp thu cải sửa mà tiếp tục phạm tội cho thấy bị cáo là đối tượng khó cải tạo giáo dục và không tuân thủ pháp luật, vì vậy cần xét xử bị cáo nghiêm khắc.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Bị cáo có nhân thân xấu nhiều lần bị Toà án áp dụng hình phạt tù, nhiều lần bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nên cần xem xét khi lượng hình. Song, cũng xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, có bố đẻ được Nhà nước tặng Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng Ba, do đó, khi áp dụng hình phạt bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là phạt tù có thời hạn - buộc bị cáo cách ly ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo hiệu quả của việc cải tạo, giáo dục cũng như phòng ngừa tội phạm chung. Bị cáo nhiều lần bị xét xử về tội phạm liên quan đến ma túy nhưng tiếp thu cải sửa, do đó, cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua của 01 người nam giới không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý người bán ma tuý cho bị cáo là phù hợp.

[7] Về xử lý vật chứng: Số ma túy loại Heroine thu giữ của bị cáo được hoàn lại sau giám định, là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tiến D phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Tiến D có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm o khoản 2, khoản 5 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 23/12/2023. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
  3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ số ma túy loại Heroine thu của bị cáo Nguyễn Tiến D hoàn lại sau giám định và bao gói.

    Vật chứng có đặc điểm như ghi tại: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 23/12/2023; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 23/12/2023; Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, ngày 27/3/2024.

  4. Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Tiến D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Án tuyên công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 07/5/2024.
  6. Quyền thi hành: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS TP.Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - VKS tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Hân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 70/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ 1,7427 gam Heroine
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger