TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 70/2024/HS-ST Ngày: 06-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Văn Chiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Văn Phương;
Ông Bùi Ngọc Hà.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phí Hoàng Tuấn - Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 73/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Ka Nhìn, sinh ngày 25 tháng 10 năm 1980 tại Lâm Đồng; nơi cư trú thôn B, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: cơ ho; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: tin lành; con ông K' Bẹo (đã chết) và bà Ka N, sinh năm: 1954, chồng: K' Brîh, sinh năm: 1980 (không đăng ký kết hôn), con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2001 nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Quyết định số: 53/QĐ-XPHC ngày 11/5/2022, của Công an huyện D xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “mua số đề”, phạt số tiền 350.000 đồng, nộp phạt xong ngày 17/6/2022, bị cáo bị tạm giữ ngày 06/5/2024, chuyển tạm giam từ ngày 09/5/2024, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện D, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bản thân Ka N1 là người sử dụng ma túy từ năm 2022 đến nay. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên trưa ngày 06/5/2024, Ka Nhìn đón xe khách xuống khu vực nghĩa trang thuộc phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tìm người để mua ma túy. Khi đến khu vực trên thì Ka N1 dùng số điện thoại 0338.776.xxx để gọi cho một người đàn ông tên “ông già” và hỏi mua ma túy với số tiền là 500.000 đồng. “Ông già” đồng ý và hẹn Ka Nhìn đợi ở nghĩa trang để giao dịch. Sau đó Ka N1 gặp “ông già”, N1 đưa cho người này 500.000 đồng và nhận lại 02 gói nilon trong suốt dạng túi có nắp khóa kéo có chứa ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, Ka N1 cất giấu số ma túy trên vào ví da mang theo người và đón xe khách về lại nhà tại thôn B, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng giấu để sử dụng dần. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 06/5/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp Công an xã Đ kiểm tra căn nhà gỗ tại thôn B, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng phát hiện Ka Nhìn có hành vi cất giấu 02 gói nylon trong suốt dạng túi có nắp khóa kéo kích thước lần lượt là 1,5cm x 2,5 cm và 1,5cm x 02 cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp loại Methamphetamine, trong một ví da kích thước 17cm x 09cm x 02 cm để trên giường trong nhà ở của Nhìn. Cơ quan Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong toàn bộ vật chứng có liên quan để phục vụ công tác điều tra. Tiến hành xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể Ka Nhìn bằng hình thức test nhanh cho kết quả dương tính với ma túy Methamphetamine.
Tại bản kết luận giám định số 627/KL-KTHS ngày 09/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L, kết luận:
“Mẫu tinh thể (M) đựng trong hai gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2670g (không phẩy hai sáu bảy không gam), loại Methamphetamine.
Methamphetamnine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.
Vật chứng thu giữ: 01 ví da, kích thước: 17cm x 09cm x 02cm; 01 gói nylon trong suốt dạng túi zip, kích thước: 1,5cm x 2,5 cm bên trong chứa ma túy tổng hợp loại Methamphetamine; 01 gói nylon trong suốt dạng túi zip, kích thước: 1,5cm x 02 cm bên trong chứa ma túy tổng hợp loại Methamphetamine; 01 điện thoại di động hiệu VIVO, gắn sim số: 0338776791. Các vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh quản lý.
Tại cơ quan điều tra, Ka N1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Cáo trạng số 71/CT-VKSDL ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Ka N1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Ka N1 đã khai nhận toàn bộ hành vi mà mình đã thực hiện như nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, không có nội dung gì thay đổi. Bị cáo thống nhất và không thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng, các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng trình bày luận tội, tranh luận đối với bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Ka N1 về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng số 71/CT-VKSDL ngày 15 tháng 8 năm 2024 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ka N1 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Qua phân tích đánh giá tính chất mức độ về hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đề nghị:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; các Điều 38, 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Ka N1 từ 18 đến 24 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ 02 phong bì là bao gói niêm phong gửi giám định và hoàn mẫu lại sau giám định; tịch thu tiêu huỷ 01 ví da, kích thước: 17cm x 09cm x 02cm của Ka N1 dùng để cất giấu ma tuý, tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu VIVO là công cụ phương tiện Ka Nhìn dùng để liên lạc mua ma tuý.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 06/5/2024, tại thôn B, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo Ka N1 có hành vi cất giấu 02 gói nylon trong suốt dạng túi có nắp khóa kéo kích thước lần lượt là 1,5cm x 2,5cm và 1,5cm x 02cm bên trong chứa 0,2670g (không phẩy hai sáu bảy không gam) ma túy, loại Methamphetamine, trong một ví da để trên giường trong nhà ở của bị cáo Ka N1 mục đích để sử dụng dần thì bị công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ cùng tang vật. Hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[4] Về quyết định hình phạt: xét thấy bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức pháp luật, bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ 0,2670 gam ma túy, loại Methamphetamine là thể hiện ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Hành vi của bị cáo thực hiện đã vi phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Trong tình hình người sử dụng ma túy và tội phạm liên quan đến ma túy ngày càng gia tăng, diễn biến ngày càng phức tạp và là mầm mống của các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa phương nên cần xử phạt bị cáo hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo thực hiện, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện bị cáo làm nông, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Xét thấy: 02 phong bì là bao gói niêm phong gửi giám định và hoàn mẫu lại sau giám định là chất cấm, cần tịch thu tiêu huỷ; đối với 01 ví da, kích thước 17cm x 09cm x 02cm của Ka N1 dùng để cất giấu ma tuý không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ; 01 điện thoại di động hiệu VIVO là công cụ, phương tiện bị cáo Ka N1 dùng để liên lạc mua ma tuý nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[7] Đối với đối tượng tên “ông già” đã bán ma túy cho bị cáo Ka N1, sau khi mua được ma túy, bị cáo lo sợ nên đã xóa số điện thoại gọi cho “ông già”, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D sẽ tiếp tục xác minh, xử lý sau.
[8] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: bị cáo Ka N1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; các Điều 38, 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Ka Nhìn 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 06/5/2024.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ 02 phong bì được niêm phong có chữ ký ghi họ tên Võ Như T, Nguyễn Văn C, Ngô H và có hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh L là phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định và phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định: 0,2020g; 01 ví da kích thước 17cm x 09cm x 02cm được đựng trong phong bì màu trắng được niêm phong có chữ ký của Phạm Tiến T1, Trần Văn Đ, Trần Văn V, Hàng Dòng B, Ka N1 và có hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã Đ (phong bì đánh số 02).
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu vivo được đựng trong phong bì màu trắng được niêm phong có chữ ký của Phạm Tiến T1, Trần Văn Đ, Trần Văn V, Hàng Dờng B, Ka N1 và có hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã Đ (phong bì đánh số 03).
(Có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/8/2024 giữa Công an huyện D và Chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh).
4. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Ka N1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Văn Chiến |
6
Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 70/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ka N
