TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG Bản án số: 70/2024/HS-ST Ngày 06-6-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đàm Văn Sự
Ông Hoàng Quang Chuẩn.
- Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Biển, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thiêm, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2024/TLST- HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 344/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Đỗ Quang T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 18/12/1984 tại C, Thành phố Hà Nội; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện tại: Thôn H, xã H, huyện C, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 09/12 phổ thông; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Đỗ Quang L, sinh năm 1959; Con bà: Lê Thị S, sinh năm 1959, đều trú tại thôn H, xã H, huyện C, thành phố Hà Nội; Vợ: Hoàng Thị M, sinh năm 1981; Con: Có 02 con; Con lớn, sinh năm 2008; Con nhỏ sinh năm 2010; Anh chị em ruột: Có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án: không; Tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024 đến ngày 01/02/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh C. Ngày 01/02/2024 bị cáo được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp Bảo lĩnh. Có mặt.
2. Họ và tên: Đỗ Quang N; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 02/12/1989 tại C, Thành phố Hà Nội. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện tại: Thôn H, xã H, huyện C, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12 phổ thông; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Quang L1, sinh năm 1962; Con bà: Lê Thị H, sinh năm 1963, đều trú tại thôn H, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội; Vợ: Nguyễn Thị N1, sinh năm 1990; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2015; Con nhỏ sinh năm 2018. Đều trú tại: Thôn H, xã H, huyện C, thành phố Hà Nội; Anh chị em ruột: Có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án: không; Tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024 đến ngày 01/02/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh C. Ngày 01/02/2024 bị cáo được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp Bảo lĩnh. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 04 giờ 10 phút ngày 04/01/2024 tại Km 72+550 Quốc lộ D thuộc địa phận thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng, Tổ công tác Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang Đỗ Quang N (sinh năm 1989; trú tại thôn H, xã H, huyện C, thành phố Hà Nội) đang điều khiển xe ô tô Toyota Vios, màu xanh, biển kiểm soát 30F-829.57 chở 03 (ba) người Trung Quốc không có giấy tờ nhập cảnh hợp pháp gồm: Hưng Hoàng S1 (sinh năm 1981), Hoàng Thiên T1 (sinh năm 1996) đều trú tại thôn M, y ban thôn C, trấn T, khu H, thành phố L, Q, Trung Quốc; Phan Diệm Đ (sinh năm1991) trú tại số D, thôn Đ, trấn T, khu H, thành phố L, Q, Trung Quốc. Ngoài ra, trên xe của N còn có Đỗ Quang T (sinh năm 1984; địa chỉ: thôn H, xã H, huyện C, thành phố Hà Nội) đang ngồi ở vị trí ghế phụ. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ người, phương tiện và đồ vật liên quan để điều tra làm rõ.
Kết quả điều tra, xác định được: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 03/01/2024, Đỗ Quang T nhận được cuộc gọi của một người đàn ông từ số điện thoại 0989.778.xxx, người này giới thiệu trước đây từng làm phụ xe khách chạy tuyến Hà Nội - Thái Bình giống T, nhưng không nói tên, tuổi, địa chỉ. Sau đó, người này sử dụng tài khoản Zalo “Tao Tao” kết bạn với T và đặt vấn đề thuê T lên tỉnh Cao Bằng đón 02-03 khách về tỉnh Lạng Sơn với số tiền là 2.000.000 đồng/người. T đồng ý và gọi cho N (là em họ của T) rủ cùng đi đón khách, thỏa thuận sau khi nhận được tiền, trừ các loại chi phí (xăng dầu, phí đi đường) sẽ chia đôi tiền công. Nhâm nhận lời và bảo T đến chờ ở Trạm thu phí N2- B. Khoảng 18 giờ cùng ngày, N điều khiển xe ô tô Toyota Vios, màu xanh, biển kiểm soát 30F-829.57 (là xe của Công ty Trách nhiệm hữu hạn V) chở theo một người khách đến đón T ở điểm hẹn rồi cùng nhau di chuyển đến Thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Trả khách xong, N cùng T điều khiển xe lên tỉnh Cao Bằng. Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 04/01/2023, N và T đến thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Khoảng một tiếng sau, theo hướng dẫn của người dùng Zalo “Tao Tao”, T và N điều khiển xe đến một đoạn đường vắng vẻ cách thị trấn T 07 K (hướng đi T) thì gặp một nhóm gồm 04 người, trong đó có 01 người Việt Nam đi xe máy và 03 người Trung Quốc đứng chờ sẵn. Người Việt Nam hỏi T “có phải đón khách cho “Tao Tao” không?”. T bảo “Phải”. Sau đó, người Việt Nam này hướng dẫn 03 người Trung Quốc lên xe ô tô. Nhâm lái xe quay về thị trấn T để đi về tỉnh Lạng Sơn. Khi đi được khoảng 10km, “Tao Tao” liên lạc với T, yêu cầu T quay phim 03 người Trung Quốc ở trên xe. Thăng thực hiện theo và gửi đoạn Video cho “Tao Tao” để xác nhận đã đón đúng người. Lúc này, T quay lại hỏi ba người Trung Quốc bằng tiếng Việt là “mấy anh đi về đâu mà muộn thế?” nhưng không ai trả lời. Sau đó, có một người Trung Quốc lên tiếng nhưng T không hiểu gì. Nhâm quay lại hỏi là người ở đâu bằng tiếng Trung Quốc thì Hưng Hoàng S1 cho biết họ đều là người Trung Quốc. Nhâm hỏi S1 có Hộ chiếu không thì S1 trả lời là cả ba có hộ chiếu nhưng không mang theo. Lúc này N và T đều biết họ là người Trung Quốc nhập cảnh trái phép nhưng vì lợi ích kinh tế cả hai vẫn tiếp tục đưa người về tỉnh Lạng Sơn theo như thỏa thuận với “Tao Tao”. Khi xe di chuyển đến đoạn đường Quốc lộ 4A thuộc xóm N, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng thì T, N bị Tổ Công tác Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi của các bị cáo Đỗ Quang T, Đỗ Quang N đã bị Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh C lập hồ sơ khởi tố về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo qui định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã ban hành Cáo trạng số: 40/CT-VKSCB-P1 truy tố bị cáo Đỗ Quang T, Đỗ Quang N về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” là đúng, không oan.
Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên tham gia phiên toà trình bày lời luận tội đánh giá các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội. Khẳng định quyết định truy tố đối với bị cáo Đỗ Quang T, Đỗ Quang N về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật. Vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:
- - Về tội danh: Bị cáo Đỗ Quang T, Đỗ Quang N phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.
- - Về điều luật áp dụng và hình phạt:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Quang T và bị cáo Đỗ Quang N, đề nghị xử phạt các bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cho các bị cáo.
- Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục.
- - Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu phát mại lấy tiền nộp ngân sách Nhà nước 02 điện thọai di động của Đỗ Quang T và Đỗ Quang N vì các bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội.
- - Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có lời bào chữa, không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, các bị cáo Đỗ Quang T và Đỗ Quang N đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; Lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và có đủ căn cứ kết luận như sau: Ngày 03/01/2024, Đỗ Quang T được một người đàn ông sử dụng tài khoản Zalo tên “Tao Tao” gọi điện thuê lên tỉnh Cao Bằng đón người Trung Quốc nhập cảnh trái phép với số tiền là 2.000.000 đồng/người về tỉnh Lạng Sơn. Thăng rủ Đỗ Quang N cùng thực hiện, thỏa thuận chia đôi tiền công sau khi trừ các chi phí phát sinh. Khoảng 02 giờ ngày 04/01/2024, N và T đón được 03 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép tại khu vực cách thị trấn T, tỉnh Cao Bằng khoảng 7km về hướng T lên xe ô tô Toyota Vios, màu xanh, biển kiểm soát 30F-829.57. Khi xe di chuyển đến địa phận xóm N, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng thì bị Tổ Công tác Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang nên cả hai chưa nhận được tiền công.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp, mục đích để được hưởng lợi về kinh tế. Hành vi của các bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh gây ảnh hưởng xấu đến việc giữ gìn an ninh chính trị tại khu vực biên giới, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Việc các bị cáo tự ý đón công dân Trung Quốc vào Việt Nam không có sự kiểm soát của các cơ quan chức năng dẫn đến tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các loại tội phạm cũng như làm phát sinh nhiều vấn đề an ninh trật tự phức tạp. Việc đưa các bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết, nhằm mục đích răn đe giáo dục riêng đối với các bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh chống tội phạm và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về nhân thân: Bị cáo Đỗ Quang T và Đỗ Quang N đều là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, trước khi phạm tội luôn chấp hành tốt pháp luật và các quy định của địa phương.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đỗ Quang T và Đỗ Quang N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; Do đó, cả hai bị cáo đều được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Đỗ Quang T được Ban chỉ đạo vận động hiến máu tình nguyện thành phố Hà Nội cấp giấy chứng nhận hiến máu nhân đạo, có bố bị bệnh hiểm nghèo, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn là lao động chính trong gia đình.
Bị cáo Đỗ Quang N được Ban chỉ đạo vận động hiến máu tình nguyện thành phố Hà Nội cấp giấy chứng nhận hiến máu nhân đạo, có bố đẻ được tặng kỷ niệm chương Cựu chiến binh Việt Nam, ông nội vợ bị cáo là Liệt sĩ, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn là lao động chính trong gia đình.
Do đó, cả hai bị cáo đều được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- - Về các tình tiết tăng nặng: Cả hai bị cáo đều không có.
[4] Về hình phạt chính: Trong vụ án này hai bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội với vai trò ngang nhau, bị cáo Đỗ Quang T là người trực tiếp liên hệ để đón người còn bị cáo Đỗ Quang N là người trực tiếp chở những người nhập cảnh trái phép. Cả hai bị cáo đều là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có hai tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, được chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú xác nhận chấp hành tốt pháp luật và các quy định của địa phương. Do vậy, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội chỉ cần giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú, giám sát và giáo dục cũng đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Khoản 4 Điều 348 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Các vấn đề khác: Đối với 03 công dân Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam lần đầu, Phòng Q Công an tỉnh C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi nhập cảnh trái phép bằng hình thức phạt tiền và được trao trả về Trung Quốc theo qui định.
Về người dùng số điện thoại 0989.778.xxx, tài khoản Zalo “Tao Tao”, qua xác minh người đăng ký sử dụng số điện thoại trên là Phan Bùi T2 (sinh năm 1960; trú tại K, thị trấn H, huyện H, tỉnh Nghệ An). Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh C đã ủy thác điều tra cho Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh N tiến hành xác minh nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả trả lời. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục phối hợp xác minh, nếu có đủ căn cứ sẽ xử lý trong vụ án khác.
Đối với người đàn ông đưa 03 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép lên xe của N và T tại huyện T, tỉnh Cao Bằng, vì không có thông tin gì của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để mở rộng điều tra.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu phát mại lấy tiền nộp ngân sách Nhà nước 02 điện thọai di động của Đỗ Quang T và Đỗ Quang N vì các bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội.
[8] Về án phí: Các bị cáo Đỗ Quang T và Đỗ Quang N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Quang T và Đỗ Quang N về mức hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Quang T và Đỗ Quang N phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử: Tịch thu phát mại nộp vào ngân sách Nhà nước:
- + 01 (một) phong bì niêm phong theo quy định, mặt trước ghi “Điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE Xs max của Đỗ Quang T”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn mực đỏ của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh C.
- + 01 (một) phong bì niêm phong theo quy định, mặt trước ghi “Điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE11 Pro max của Đỗ Quang N”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn mực đỏ của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh C.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 348; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Đỗ Quang T 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Đỗ Quang N 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Xác nhận số vật chứng trên đã được chuyển giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng số: 94 ngày 26/4/2024.
Bị cáo Đỗ Quang T và Đỗ Quang N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo 200.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo Đỗ Quang T và Đỗ Quang N có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Vân Khánh |
Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép
- Số bản án: 70/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 03/01/2024, Đỗ Quang T được một người đàn ông sử dụng tài khoản Zalo tên “Tao Tao” gọi điện thuê lên tỉnh Cao Bằng đón người Trung Quốc nhập cảnh trái phép với số tiền là 2.000.000 đồng/người về tỉnh Lạng Sơn. Thăng rủ Đỗ Quang N cùng thực hiện, thỏa thuận chia đôi tiền công sau khi trừ các chi phí phát sinh. Khoảng 02 giờ ngày 04/01/2024, N và T đón được 03 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép tại khu vực cách thị trấn T, tỉnh Cao Bằng khoảng 7km về hướng T lên xe ô tô Toyota Vios, màu xanh, biển kiểm soát 30F-829.57. Khi xe di chuyển đến địa phận xóm N, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng thì bị Tổ Công tác Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang nên cả hai chưa nhận được tiền công.
