Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 70/2024/HS-PT

Ngày 05-6-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Phạm Trung Dũng

Các Thẩm phán:Ông Đặng Văn Sử

Ông Trần Minh Bắc

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 63/2024/HSPT ngày 24-4-2024 đối với bị cáo Lê Thị V, Vũ Thị L do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HSST ngày 14-3-2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Bị cáo có kháng cáo:

  1. Lê Thị V, sinh năm 1987 tại Thanh Hóa; Nơi cư trú: Tổ D, khu phố S, phường T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: thu mua phế liệu; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Viết C, sinh năm 1963; Con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1967; chồng: Lê Thiện T, sinh năm 1982 và có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2010.

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo tại ngoại (có mặt).

  2. Vũ Thị L, sinh năm 1981 tại Ninh Bình; HKTT: thôn L, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Chỗ ở: Tổ C, khu phố V, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa . Vũng Tàu; Nghề nghiệp: thu mua phế liệu; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam Con ông Vũ Đình T1, sinh năm 1949; Con bà Phạm Thị Q (đã chết); chồng: Trần Văn D (đã chết) và có 02, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2004.

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo tại ngoại (có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo V: Ông Hoàng Tuấn V1, ông Bùi Đức N1 – Luật sư Công ty L1 – Đoàn luật sư thành phố H (có mặt).

Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo khác, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Chí H là người sống lang thang, không có nghề nghiệp ổn định. Do cần tiền tiêu xài nên H đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền. Vào khoảng tháng 8/2023 đến ngày 09/09/2023 Phạm Chí H đã nhiều lần cùng với Trần Gia H1, Võ Duy H2, Phan Anh D1, Võ Văn H3 và Lê Phước T2 đột nhập vào Tòa nhà sân vận động P thuộc phường T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để trộm cắp tài sản. Sau khi trộm được tài sản đã mang đến tiệm thu mua phế liệu của Lê Thị V hoặc Vũ Thị L để bán lấy tiền tiêu xài. Cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào buổi trưa một ngày (không xác định được cụ thể ngày nào) trong tháng 08/2023 Phạm Chí H cùng Phan Anh D1, Võ Duy H2, Trần Gia H1, Lê Phước T2 đột nhập vào tầng hai của Tòa nhà sân vận động P. Cả nhóm đi vào phòng tập võ rồi cùng nhau lấy trộm một cánh cửa sổ lùa bằng nhôm kính (bộ cửa gồm có 04 cánh cửa) mang ra ngoài tháo rời phần kính, bẻ khung cửa bên ngoài thành những thanh nhôm ngắn. Sau đó cùng nhau mang tài sản đến tiệm T3 tại khu phố S, phường T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bán cho Lê Thị V được số tiền 130.000 đồng. Số tiền này cả nhóm chia nhau tiêu xài hết.

Vụ thứ hai: Vào buổi trưa ngày hôm sau (ngày tiếp theo vụ thứ 01), Phạm Chí H cùng Võ Duy H2, Trần Gia H1, Lê Phước T2 tiếp tục đột nhập vào tầng hai của Tòa nhà sân vận động P. Cả nhóm đi đến phòng tập võ, lấy trộm 03 cánh cửa sổ còn lại của bộ C2 lùa (cùng bộ với cánh cửa đã trộm ở vụ thứ nhất), mang ra ngoài dùng đá đập bể phần kính, bẻ khung cửa bên ngoài thành những thanh nhôm ngắn rồi cùng nhau mang đến bán cho Lê Thị V được số tiền 330.000 đồng. Số tiền này cả nhóm chia nhau tiêu xài hết.

Vụ thứ ba: Vào buổi trưa một ngày sau vụ thứ hai khoảng một tuần, Phạm Chí H cùng Phan Anh D1, Võ Duy H2, Trần Gia H1 tiếp tục đột nhập vào tầng 2 của Tòa nhà sân vận động P, lấy trộm được 12 cánh cửa sổ lùa bằng nhôm kính tại các phòng trên tầng 2 rồi khiêng ra vách tường ngoài của sân vân động (khu vực vườn Mì). Tại đây, cả nhóm dùng đá đập vỡ kính của các cửa sổ, bẻ khung cửa bên ngoài xếp lại thành từng đoạn nhôm ngắn bỏ vào bao tải. Sau đó, D1 gọi điện cho Võ Văn H3 nhờ H3 chở đi bán số tài sản vừa trộm cắp được. H3 đồng ý nên đã điều khiển xe môtô chở D1 mang số tài sản trên đến bán cho Lê Thị V được số tiền 1.300.000 đồng. Số tiền này cả nhóm chia nhau tiều xài hết.

Vụ thứ tư: Sau vụ trộm thứ ba khoảng một tuần, Phạm Chí H một mình đột nhập vào Tòa nhà Sân vận động P. H đi lên phòng vệ sinh nữ trên tầng 2 lấy trộm 01 cửa nhôm (loại của đi, 01 cánh) sau đó mang ra ngoài rồi kéo đến bán cho Lê Thị V được số tiền 500.000 đồng, số tiền này một mình H tiêu xài hết.

Vụ thứ năm: Vào khoảng 04 đến 05 giờ ngày 09/09/2023, H tiếp tục đột nhập vào Tòa nhà Sân vận động P, đi lên tầng 2 để trộm cắp tài sản. Khi lên tầng 2, H nhìn thấy 01 cánh cửa nhôm lớn (không có kính, loại cửa đi 2 cánh khung nhôm) dựng trên lan can cầu thang lên xuống nên đi tới lấy cánh cửa này đem đi xuống chân cầu thang đưa qua khe cửa sắt được khóa ở chân cầu thang để ở đây, rồi tiếp tục đi lên tầng 2, đi về phía cửa lớn (loại cửa có 02 cánh, cùng loại với cánh cửa trên) chặn ở lối ra cầu thang bên tay trái theo hướng từ bên ngoài nhìn vào Tòa nhà sân vận động, H dùng tay nâng từng cánh cửa để tháo rời từng cánh cửa ra khỏi bản lề ở khung cửa lấy từng cánh rồi kéo xuống chân cầu thang, đưa qua khe cửa sắt được khóa ở chân cầu thang. Sau đó, H mang 03 cánh cửa nhôm ra ngoài, rồi kéo từng cánh cửa đến đường cát kế bên sân vận động và cất giấu tại đây. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, H đi đến tiệm thu mua phế liệu tại phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu của Vũ Thị L để hỏi bán 03 cánh cửa mà H mới trộm được trên. H nói với L dùng xe ba gác chở H đến vị trí nơi H cất giấu 03 cánh cửa. Khi đến nơi, L biết rõ số cửa trên là do H trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mua rồi chở về tiệm ve chai của L. Tại đây, L cân ký và mua với giá 2.150.000 đồng. Số tiền này H đã tiêu xài hết.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 191/KL-HĐ.ĐGTS ngày 21/09/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã P kết luận:

  • 01 (một) bộ cửa sổ lùa khung nhôm Xingfa, kính trong dày 5mm (bao gồm phụ kiện, bản lề chốt, khóa) mỗi bộ gồm 04 cánh cửa sổ với diện tích 3,1975m2, mỗi cánh cửa sổ diện tích là 0,793125m2, thời điểm bàn giao công trình là vào tháng 01/2019. Tại thời điểm tháng 08/2023 và ngày 09/09/2023, tài sản có giá trị là: 2.850.000đ/m2 x 3,1975m2 = 9.112.875₫ (Chín triệu, một trăm mười hai nghìn, tám trăm bảy mươi lăm đồng).
  • 01 (một) bộ cửa đi 02 cánh khung nhôm Xingfa kính trong dày 5mm (bao gồm phụ kiện, bản lề chốt, khóa) mỗi bộ gồm 02 cánh cửa với diện tích 2,838m2, mỗi cánh có diện tích là 1,419m2, thời điểm bàn giao công trình là vào tháng 01/2019. Tại thời điểm tháng 08/2023 và ngày 09/09/2023, tài sản có giá trị là: 3.050.000đ/m2 x 2.838m2 = 8.655.900₫ (Tám triệu, sáu trăm năm mươi lăm nghìn, chín trăm đồng).
  • 01 (một) bộ cửa đi 01 cánh khung nhôm Xingfa kính trong dày 5mm (bao gồm phụ kiện, bản lề chốt, khóa) có diện tích 1,5m2, thời điểm bàn giao công trình là vào tháng 01/2019. Tại thời điểm tháng 08/2023 và ngày 09/09/2023, tài sản có giá trị là: 2.950.000đ/m2 x 1,5m2 = 4.425.000đ (bốn triệu, bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
  • 01 (một) bộ cửa đi 02 cánh khung nhôm Xingfa, pano nhôm & (bao gồm phụ kiện, bản lề chốt, khóa), mỗi bộ 02 cánh với diện tích là 5,98m2, mỗi cánh có diện tích là 2,99m2, thời điểm bàn giao công trình là vào tháng 01/2019 và giá trị được tính giá như bộ 04 cánh khung nhôm Xingfa, pano nhôm & (bao gồm phụ kiện, bản lề chốt, khóa) theo quyết toán được phê duyệt. Tại thời điểm tháng 08/2023 và ngày 09/09/2023, tài sản có giá trị là: 4.050.000đ/m2 x 5,98m2 = 24.219.000đ (hai mươi bốn triệu, hai trăm mười chín nghìn đồng).

Quá trình điều tra, Phạm Chí H, Lê Thị V, Vũ Thị L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của H, V và L là phù hợp với lời khai bị hại và những tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan CSĐT Công an thị xã P thu thập được.

Về trách nhiệm dân sự:

- Sau khi vụ việc xảy ra, gia đình của Trần Gia H1, Võ Duy H2, Phan Anh D1, Võ Văn H3, Lê Phước T2 đã khắc phục, sửa chữa hệ thống 04 bộ cửa sổ lùa nhôm Xingfa (mỗi bộ D2 cánh) cho phòng tập võ Teakwondo ở tầng 2 của Tòa nhà sân Vận động P; Sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, Trung tâm Văn hóa - Thông tin và thể thao thị xã P không yêu cầu bồi thường thêm.

Tại Cáo trạng số 15/CT-VKSPM ngày 05/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Phạm Chí H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Truy tố các bị cáo Lê Thị V, Vũ Thị L về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HSST ngày 14-3-2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Chí H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, Bị cáo Lê Thị V, Vũ Thị L phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”

Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo V 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt chấp hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo L 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt chấp hành án.

Ngoài ra bản án còn tuyên phạt bị cáo Phạm Chí H, án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 18/3/2024, bị cáo Lê Thị V, Vũ Thị L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm;

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung án sơ thẩm và bổ sung yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát biểu quan điểm về vụ án: Bản án sơ thẩm đã xét xử đối với các bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật, mức án đã tuyên phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các cbị cáo. Tại phiên tòa, các bị cáo không cung cấp được chứng cứ nào mới làm căn cứ xin giảm hình phạt. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Các luật sư Hoàng Tuấn V1, Bùi Đức N1 bào chữa cho bị cáo V trình bày: Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh là có căn cứ, tuy nhiên mức hình phạt 21 tháng tù đối bị cáo là chưa thoả đáng, quá nghiêm khắc đối với bị cáo. Bị cáo bị xử phạt tù không quá 03 năm, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; Đề nghị xem xét thêm tình tiết bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; hoàn cảnh gia đình khó khăn, chồng bị thoái hoá cột sống, con thường xuyên bị bệnh, đau ốm, bị cáo là lao động chính. Bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo, không thuộc trường hợp không được hưởng án treo. Do vậy, đề nghị xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Thị V, Vũ Thị L gửi trong thời hạn luật định, phù hợp về chủ thể và nội dung kháng cáo nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo trình tự thủ tục phúc thẩm.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Từ khoảng tháng 8/2023 đến ngày 09/9/2023, Phạm Chí H đã cùng với Trần Gia H1, Võ Duy H2, Phan Anh D1, Võ Văn H3 và Lê Phước T2 nhiều lần đột nhập vào Sân vận động thị xã P (thuộc phường T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào trưa một ngày trong tháng 8/2023, H cùng D1, H2, H1 và T2 chiếm đoạt 01 cánh cửa sổ lùa khung nhôm Xingfa, trị giá 2.278.218 đồng.

Lần thứ hai: Vào buổi trưa ngày hôm sau, H cùng H2, H1, T2 chiếm đoạt 03 cánh cửa sổ lùa khung nhôm Xingfa, trị giá 6.834.657 đồng.

Lần thứ ba: Vào buổi trưa một ngày sau vụ thứ hai khoảng một tuần, H, D1, H2, H1 chiếm đoạt 12 cánh cửa sổ lùa khung nhôm Xingfa, trị giá 27.338.625 đồng.

Lần thứ tư: Sau vụ trộm thứ ba khoảng một tuần, H chiếm đoạt 01 cửa đi 01 cánh, khung nhôm Xingfa, trị giá 4.425.000 đồng.

Lần thứ năm: Vào khoảng 04-05 giờ ngày 09/09/2023, H chiếm đoạt 03 cánh cửa đi (loại 02 cánh/bộ) khung nhôm Xingfa, pano nhôm & C1, loại cửa đi, trị giá 36.328.500 đồng.

Tổng giá trị tài sản 05 lần H đã chiếm đoạt của Trung tâm Văn hóa - Thông tin và Thể thao thị xã P là 77.205.000 đồng.

Bị cáo Lê Thị V, Vũ Thị L biết rõ số tài sản H mang đến bán là do H trộm cắp mà có nhưng vì mục đích vụ lợi nên vẫn đồng ý mua để bán lại cho người khác kiếm lời. Bị cáo V đã có hành vi 04 lần mua tài sản do H trộm cắp được mà có trị giá 40.876.500 đồng. Bị cáo L có hành vi 01 lần mua tài sản do H trộm cắp được mà có trị giá 36.328.500 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử Lê Thị V, Vũ Thị L phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có "theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, hưởng án treo của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần có hình phạt tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Bị cáo Lê Thị V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trong quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 2.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Xét bị cáo có nhân thân tốt, các lần phạm tội đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, giá trị tài sản tiêu thụ các lần không lớn, đã tự giác nộp lại số tiền để khắc phục hậu quả, việc bồi thường dân sự khắc phục hậu quả vụ án đã giải quyết xong. Do vậy, Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo V 21 tháng tù là có phần nghiêm khắc, Hội đồng xét xử có căn cứ xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo V.

Bị cáo Vũ Thị L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tự nguyện giao nộp số tiền 2.500.000 đồng để khắc phục hậu quả. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Xét bị cáo là phụ nữ có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; hoàn cảnh gia đình khó khăn là lao động chính, chồng chết, bị cáo trực tiếp nuôi dưỡng 02 con, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà xem xét chính sách khoan hồng của pháp luật hình sự giảm một phần hình phạt và áp dụng Điều 65 bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích và không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương.

Từ những phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo V, L, sửa bản án sơ thẩm.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí.

[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

  1. Chấp nhấp nhận kháng cáo của Lê Thị V, Vũ Thị L; sửa Bản án sơ thẩm số 32/2024/HSST ngày 14-3-2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

    Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị V, Vũ Thị L phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

    - Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt: bị cáo Lê Thị V 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt chấp hành án.

    - Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: bị cáo Vũ Thị L 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 05-6-2024).

    Giao bị cáo Vũ Thị L cho Ủy ban nhân dân phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự.

  2. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HSST ngày 14-3-2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Lê Thị V, Vũ Thị L không phải chịu án phí.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - PV 27 - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Trại tạm giam – Công an tỉnh BR-VT;
  • - Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ;
  • - VKSND thị xã Phú Mỹ;
  • - Công an thị xã Phú Mỹ;
  • - Chi cục THADS thị xã Phú Mỹ;
  • - Bị cáo; UBND phường Phú Mỹ;
  • - Lưu: Tòa Hình sự, Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Trung Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS-PT ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 70/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị V 323
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger