|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 70/2025/HSST Ngày: 24/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Lưu Triều
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Đỗ Văn Hòa
- Bà Nguyễn Thị Viết Sáu
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Ngô Thái Hà - Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Phan Thiết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Phan Thiết: Ông Hà Văn Thịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 328/2025/HSST ngày 03 tháng 12 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Diệp Văn T; Giới tính: Nam, T1 gọi khác: Q, Sinh ngày 16 tháng 9 năm 2000 tại: Ninh Thuận, HKTT và chỗ ở: khu phố I, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, Dân tộc: Kinh, Quốc tịch: Việt Nam, Tôn giáo: Không, Trình độ học vấn: 2/12, Nghề nghiệp: không, Cha: Diệp Văn T2, sinh năm 1977, nghề nghiệp: làm thuê, Mẹ: Lê Thủy T3, sinh năm 1978, nghề nghiệp: nội trợ, Anh chị em ruột: có 05 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình, V: Nguyễn Đình Thanh T4, sinh năm 1999, nghề nghiệp: nội trợ, Con: Diệp Đình K, sinh năm 2020, Tiền án, tiền sự: không, Nhân thân: không, Bị cáo Diệp Văn T bị bắt quả tang và bị tạm giữ từ ngày 27/9/2024, chuyển tạm giam từ ngày 06/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:
Theo cáo trạng, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 23 tháng 9 năm 2024, Diệp Văn T sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone loại 7plus gắn sim số 0842013014 gọi điện thoại qua ứng dụng Zalo cho một người có tên là Dâu T5 (tên trên ứng dụng Z là “La Cà”, chưa rõ nhân thân) hỏi mua 5.000.000 đồng ma túy đá, nhưng vì chưa có tiền nên T đã xin nợ, Dâu T5 đồng ý và thỏa thuận giao dịch ma túy tại nhà chị Nguyễn Đình Thanh T4 (sinh năm 1999, trú tại khu phố B, phường H, thành phố P, vợ T). Sau khi nghe điện thoại xong, T đứng ở trước nhà đợi, chị T4 lúc này đang ở sau nhà nên không biết việc T mua ma túy. Khoảng 30 phút sau, có một nam thanh niên (chưa rõ nhân thân) điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) đến đưa cho T 01 gói nylon màu đen rồi bỏ đi. T mở ra xem thì thấy bên trong có 02 gói ma túy đá đựng trong 02 gói nylon không màu, một đầu có nhíp kéo, viền màu đỏ (gồm một gói nhiều ma túy đá và một gói ít hơn, gói ma túy ít hơn trên bao nylon có họa tiết màu xanh). T lấy toàn bộ số ma túy vừa mua được bỏ vào bao thuốc lá hiệu “JET” rồi cất trong túi quần đang mặc, mang theo trong người với mục đích gặp ai có nhu cầu mua thì bán. Đến trưa ngày 26/9/2024, T mang theo số ma túy trên và 01 nắp chai nhựa được đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút nước giải khát, một lỗ gắn nỏ thủy tinh, bên trong còn sót lại một ít ma túy T sử dụng còn thừa đi đến thị trấn M thuộc huyện H, tỉnh Bình Thuận gặp Nguyễn Lê V1 (sinh năm 1994, trú tại thôn D, xã H, huyện H) rồi cả hai cùng nhau xuống Homestay “Seaside” thuộc khu phố F, phường H, thành phố P, tại đây T thuê được phòng 201 rồi cùng V1 nghỉ ngơi. Đến tối sau khi V1 đi ngủ, T lấy nắp chai nhựa nói trên gắn vào vỏ chai nhựa không màu làm thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá rồi ngồi sử dụng một mình. Sử dụng xong T bỏ bộ dụng lại trên bàn trong phòng 201, sau đó đi ngủ nhưng do bị cấn ở túi quần vỏ gói thuốc JET bên trong chứa 02 gói ma túy đá nên T lấy ra rồi để một bên vị trí T nằm và đi ngủ.
Đến khoảng 10 giờ 05 phút ngày 27/9/2024, Tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố P phối hợp với Công an phường H, thành phố P tiến hành kiểm tra hành chính phòng 201 H “Seaside”. Qua kiểm tra, phát hiện thu giữ trên bàn trong phòng 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, bên trong ống thủy tinh còn sót lại một ít chấn rắn màu vàng nhạt (nghi là ma túy), 01 cân điện tử màu bạc. Tiếp tục kiểm tra, thu giữ trên nệm trong phòng có 01 vỏ bao thuốc lá hiệu JET, bên trong chứa 02 gói nylon không màu bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) nên Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa T, V1 cùng toàn bộ số tang vật về trụ sở để làm việc.
Quá trình điều tra, T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên. T khai: Đối với số ma túy trong vỏ bao thuốc lá hiệu JET là T tàng trữ nhằm mục đích bán kiếm lời. Số ma túy còn lại trong nỏ là ma túy mà T tàng trữ nhằm mục đích sử dụng.
Vật chứng của vụ án:
- Thu giữ trên nệm trong phòng 201 Homestay “Seaside” 01 vỏ bao thuốc lá hiệu JET bên trong chứa:
- + 01 gói nylon không màu, một đầu có nhíp kéo, viền màu đỏ, kích thước khoảng (06 x 9,5)cm (ký hiệu M1 khi giám định).
- + 01 gói nylon không màu, một đầu có nhíp kéo, viền màu đỏ, kích thước khoảng (5,5 x 10)cm, trên gói nylon có một số họa tiết màu xanh (ký hiệu M2 khi giám định).
- Thu giữ trên bàn trong phòng 201: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa không màu, có nắp màu trắng, trên nắp đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút nước giải khát, một lỗ được gắn ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu, bên trong đầu thổi phồng có chứa chất rắn màu vàng nhạt (T khai nhận đó là bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá của T tự chế, chất rắn màu vàng nhạt là ma túy đá T sử dụng còn sót lại (ký hiệu M3 khi giám định), 01 cân điện tử màu bạc.
- Thu giữ trên nệm trong phòng 201: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone loại 7Plus, vỏ màu đen, gắn sim số: 0842013014; số IMEI: 355373082029184.
- Thu giữ trên giường trong phòng 201: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone, vỏ màu đen, gắn sim số: 0586480375; số IMEI: 353051094228703.
Tại bản kết luận giám định số 1256/KL-KTHS ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh B kết luận:
- Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 21,2817 gam là Methamphetamine.
- Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 5,0157 gam là Methamphetamine.
- Mẫu M3 gửi giám định có khối lượng 0,0634 gam là Methamphetamine.
Tổng cộng: T tàng trữ số ma túy nhằm mục đích để bán là: 26,2974 gam Methamphetamine, số ma túy T tàng trữ nhằm mục đích sử dụng là: 0,0634 gam Methamphetamine.
Xử lý vật chứng:
Đối với 01 vỏ thuốc lá hiệu JET; 01 gói nylon có khóa kéo viền đỏ, kích thước khoảng (9,5 x 06)cm; 01 gói nylon có khóa kéo viền màu đỏ, kích thước khoảng (10 x 5,5)cm; 20,3123 gam mẫu M1; 4,7316 gam mẫu M2 còn lại sau khi giám định được niêm phong trong phòng bì số 1256/1; 01 đoạn ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu và 0,0423 gam mẫu M3 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1256/2 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B; 01 cân điện tử màu bạc; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa không màu, có nắp màu trắng, trên nắp đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút nước giải khát, một lỗ được gắn ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone loại 7Plus, vỏ màu đen, gắn sim số 0842013014; số IMEI: 355373082029184 (thu giữ từ D), Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết để bảo quản, chờ xử lý.
Đối với một chiếc điện thoại di động hiệu Iphone, vỏ màu đen, gắn sim số: 0586480375; số IMEI: 353051094228703 là tài sản của Nguyễn Lê V1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã ra Quyết định trả lại tài sản cho V1.
Cáo trạng số 336/CT-VKS ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Diệp Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, giữ quyền công tố đã luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Diệp Văn T từ 09 năm đến 10 năm tù.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ thuốc lá hiệu JET; 01 gói nylon có khóa kéo viền đỏ, kích thước khoảng (9,5 x 06)cm; 01 gói nylon có khóa kéo viền màu đỏ, kích thước khoảng (10 x 5,5)cm; 20,3123 gam mẫu M1; 4,7316 gam mẫu M2 còn lại sau khi giám định được niêm phong trong phòng bì số 1256/1; 01 đoạn ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu và 0,0423 gam mẫu M3 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1256/2 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B; 01 cân điện tử màu bạc; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa không màu, có nắp màu trắng, trên nắp đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút nước giải khát, một lỗ được gắn ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone loại 7Plus, vỏ màu đen, gắn sim số 0842013014; số IMEI: 355373082029184, thu giữ từ Diệp Văn T.
Nói lời sau cùng: Bị cáo xác định cáo trạng truy tố là đúng, không oan, nên không tranh luận gì, thống nhất với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sựQuá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo và xuất trình các chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận vào khoảng 10 giờ 05 phút ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại H "S" thuộc khu phố F, phường H, thành phố P, Diệp Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 26,2974 gam là Methamphetamine nhằm mục đích bán kiếm lời thì bị tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố P phối hợp với Công an phường H, thành phố P phát hiện bắt quả tang.
Đối với 0,0634 gam Methamphetamine là số ma túy còn lại trong nỏ mà Lực lượng Công an thu giữ khi bắt quả tang. Đây xác định là số ma túy T tàng trữ nhằm mục đích sử dụng nhưng do khối lượng Methamphetamine này không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, T chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị kết án về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý và các các tội quy định tại các Điều 248, 250, 251, 252 Bộ luật Hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập theo quy định của pháp luật có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời kết luận của đại diện Viện kiểm sát. Do vậy Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Hành vi của Diệp Văn T đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi và hậu quả thấy rằng: Hiện nay trên địa bàn thành phố P, cũng như trên toàn quốc nói chung, tình trạng mua bán, tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đang diễn ra khá phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, làm gia tăng tệ nạn nghiện ma túy và cũng làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần phải tuyên cho bị cáo một hình phạt thật nghiêm và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về tiền án, tiền sự: Bị cáo có nhân thân tốt.
- - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo. Do đó bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Xét phần hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Xét về vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong số 1256/1; 1256/2 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B.
- - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa có nắp màu trắng, trên nắp đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút nước giải khát.
- - 01 cân điện tử màu bạc
- - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone loại 7Plus, vỏ màu đen, gắn sim số 0842013014; số IMEI: 355373082029184, thu giữ của Diệp Văn T là công cụ để liên hệ mua ma túy.
[7] Xét đối tượng có liên quan: Đối với Nguyễn Lê V1 là người ở cùng với T nhưng việc T tàng trữ trái phép chất ma túy để bán và sử dụng thì V1 không biết. Tuy nhiên. qua xét nghiệm V1 dương tính với ma túy nên Công an thành phố P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo điểm a khoản 4 Điều 23 của Nghị định 144/2021/NĐ-CP là có căn cứ.
Đối với đối tượng có tên “Dâu Tây” là người đã bán ma túy cho T, do không rõ nhân thân nên không có căn cứ để xử lý.
[8] Xét về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Diệp Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
-
Căn cứ vào điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Diệp Văn T 09 (chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/9/2024.
-
Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong số 1256/1; 1256/2 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B.
- - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa có nắp màu trắng, trên nắp đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút nước giải khát.
- - 01 cân điện tử màu bạc
- - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone loại 7Plus, vỏ màu đen, gắn sim số 0842013014; số IMEI: 355373082029184, thu giữ của Diệp Văn T là công cụ để liên hệ mua ma túy.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 92 ngày 02/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết).
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (24/02/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán-Chủ Tọa Phiên Tòa Nguyễn Lưu Triều |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nguyễn Thị Viết Sáu |
Đỗ Văn Hòa |
Nguyễn Lưu Triều |
Bản án số 70/2025/HSST ngày 24/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 70/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Diệp Văn T - "Mua bán trải phép chắt ma tuỷ"
