|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP.ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 70/2025/HSST Ngày: 12-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU-TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Mỹ Dung
Các hội thẩm nhân dân: + Bà Nguyễn Thị Hằng
+ Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2025/HSST ngày 24 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 14/2025/HSST-QĐ ngày 20 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Văn Q. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 07/11/1995 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT và chổ ở: K N, tổ C phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 05/12. Con ông Phạm Văn Q1 (SN: 1965) và bà Ngô Thị L (SN 1968). Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền án:
Bản án số 131/2024/HSST ngày 25/9/2024, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Tiền sự:
Công an quận H, TP Đà Nẵng xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 16 ngày 05/01/2024.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam ngày 27/02/2025 hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Đ, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn Q: Ông Lê Ngọc Đ – Luật sư thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Đ. Địa chỉ: Số H H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Văn Q: Ông Phạm Văn Q1, sinh năm: 1965 và bà Ngô Thị L, sinh năm: 1968. Địa chỉ: K N, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng, ông Q1, bà L vắng mặt.
- Người phiên dịch: Bà Nguyễn Thị Hồng T – Phiên dịch viên ngôn ngũ ký hiệu. Địa chỉ: Số B T, thành phố Đà Nẵng, có mặt.
- Người bị hại:
- Bà Giang Thị Trà L1, sinh năm: 1978. Địa chỉ: K D, quận T, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
- Bà Lê Thị Quỳnh N, sinh năm: 1992. Địa chỉ: K N, phường P, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
- Ông Lê Hồng Q2, sinh năm: 1981. Địa chỉ: K Đ, quận T, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên ngày 18 và 22/10/2024, Phạm Văn Q đã thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản trên địa bàn quận H và T, cụ thể như sau:
- - Lần 01: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 18/10/2024, Phạm Văn Q điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter, màu đen - bạc, biển số: 43Y1-0734 (do Q trộm cắp được trước đó tại xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng) đi tìm tài sản trộm cắp. Khi đến nhà bà Giang Thị Trà L1 phát hiện nhà không khóa cửa. Q lén vào nhà trộm cắp số tiền 10.000.000 đồng (để trong phòng ngủ) của chị G.
- - Lần 02: Khoảng 11 giờ ngày 22/10/2024, Phạm Văn Q đi bộ để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến nhà bà Lê Thị Quỳnh N phát hiện cửa nhà không khóa nên Q vào phòng khách lấy trộm một chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, có ốp nhựa bên ngoài màu xám, bên trên có chữ “Labubu”.
- - Lần 03: Khoảng 13 giờ 30 phút 22/10/2024, Q tiếp tục đi bộ để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến trước nhà số A T, P. H, Q. H, TP ., phát hiện xe mô tô hiệu Lisohaka, màu xanh, biển số 43H8-5445 của ông Lê Hồng Q2 có gắn sẵn chìa khóa trên xe. Q trộm cắp xe, điều khiển xe tiếp tục đi tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến kiệt E đường Đ, TP, Đà Nẵng thì bị Tổ tuần tra Công an phường T, quận T phát hiện nghi vấn nên kiểm tra, đưa về trụ sở làm việc. Q đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp như trên và giao nộp xe, điện thoại đã trộm của bà G.
Vật chứng thu giữ của Phạm Văn Q:
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max, màu vàng, có ốp nhựa bên ngoài màu xám, bên trên có chữ “Labubu”, số IMEI 353895103156374;
- - 01 xe mô tô biển số 43H8-5445, không có manh hai bên, màu xanh, số khung 053877;
- - 03 đĩa DVD, bên trong có lưu trữ video camera ghi nhận lại hình ảnh Q 03 lần trộm cắp tài sản vào các ngày 18 và 22/10/2024.
Theo Kết luận định giá tài sản số 98/KL-HĐĐGTS ngày 28/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS, UBND quận H, kết luận: Chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, mẫu Gold, có ốp nhựa bên ngoài màu xám, bên trên có chữ “Labubu”, số IMEI 353895103156374 có trị giá 8.420.000 đồng.
Theo Kết luận định giá tài sản số 108/KL-HĐĐGTS ngày 19/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS, UBND quận H, kết luận: Xe mô tô hiệu Lisohaka, màu xanh, biển số: 43H8-5445 có trị giá: 2.440.000 đồng.
Bản Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 143/KLGĐ ngày 23/01/2025 của Trung tâm P kết luận về tình trạng sức khỏe tâm thần của Phạm Văn Q: Trước, tại thời điểm phạm tội và thời điểm hiện tại:
- - Kết luận theo tiêu chuẩn y học: Chậm phát triển tâm thần mức độ nhẹ, có tật chứng tác phong đáng kể (F70.1)/ Câm điếc bẩm sinh (H91.3).
- - Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
Ngoài ra, Q khai nhận đã trộm cắp xe mô tô Yamaha Jupiter, màu đen - bạc, biển số: 43Y1-0734 của anh Bùi T1 (sinh năm: 1961, trú: thôn Đ, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng), tại xã H, huyện H, TP ..
Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 21/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Phạm Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Người đại diện hợp pháp của bị cáo, những người bị hại vắng mặt, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của họ có tại hồ sơ vụ án và bị cáo xác nhận lời khai của những người này là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm p, q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn Q từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù và áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt tại Bản án số 131/2024/HSST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đối với bị cáo Q.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Phạm Văn Q và người giám hộ của bị cáo Phạm Văn Q là ông Phạm Văn Q1 và bà Ngô Thị L phải bồi thường cho bà Giang Thị Trà L1 số tiền 10.000.000₫.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX tuyên lưu giữ tại hồ sơ vụ án 03 đĩa DVD chứa các đoạn video camera ghi nhận hình ảnh Q trộm cắp tài sản vào các ngày 18 và 22/10/2024.
Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn Q thống nhất quan điểm luận tội của Vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điểm, khoản, điều luật. Tuy nhiên, luật sư phân tích thêm về điều kiện hoàn cảnh của bị cáo Q, bản thân bị cáo bị bệnh nên hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, bị cáo là người khuyết tật nặng, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên đề nghị HĐXX xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p, q, r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo Q để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo đảm bảo sự khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo không trình bày ý kiến tự bào chữa bổ sung và không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với xã hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện: Do cần tiền tiêu xài cá nhân, trong các ngày 18 và 22/10/2024 trên địa bàn các quận H và T, thành phố Đà Nẵng, Phạm Văn Q đã 03 lần trộm cắp tài sản, gồm: số tiền 10.000.000 đồng của bà Giang Thị Trà L1; 01 xe mô tô hiệu Lisohaka, biển số 43H8-5445 của ông Lê Hồng Q2, trị giá 2.440.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax của bà Lê Thị Quỳnh N trị giá 8.420.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là: 20.860.000 đồng.
[3] Đánh giá tính chất vụ án, vai trò, mức độ hành vi phạm tội đối với bị cáo như sau: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Việc bị cáo liên tiếp thực hiện các hành vi trộm cắp ở nhiều địa bàn khác nhau tại thành phố Đà Nẵng là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân.
Bị cáo Phạm Văn Q đã lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của người bị hại lén lút thực hiện việc chiếm đoạt tài sản, tổng trị giá tài sản bị cáo Q chiếm đoạt là 20.860.000 đồng nên hành vi của bị cáo phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 21/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Bị cáo Phạm Văn Q là người có nhân thân xấu, bị cáo đã bị Công an quận H, TP Đà Nẵng xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 16 ngày 05/01/2024; bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 131/2024/HSST ngày 25/9/2024.
[4.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo 03 lần thực hiện hành vi phạm tội, mỗi lần đều trộm cắp tài sản trị giá trên 2.000.000đ nên thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[4.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo bị bệnh nên hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, bị cáo là người khuyết tật nặng nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm p, q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Q khi lượng hình.
Do bị cáo có bệnh, không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp của bà Giang Thị Trà L1 số tiền 10.000.000đ và chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường nên bà L1 yêu cầu bị cáo Q phải bồi thường số tiền trên. HĐXX căn cứ Điều 46, Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Phạm Văn Q và người giám hộ của bị cáo Phạm Văn Q là ông Phạm Văn Q1 và bà Ngô Thị L phải bồi thường cho bà Giang Thị Trà L1 số tiền 10.000.000đ.
Đối với bà Lê Thị Quỳnh N và ông Lê Hồng Q2 đã nhận lại tài sản và không có ý kiến yêu cầu gì nên HĐXX không đề cập giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an quận H đã trả lại 01 xe mô tô hiệu Lisohaka, màu xanh, biển số 43H8-5445 cho ông Lê Hồng Q2 và 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 11 Pro Max, màu vàng, có ốp nhựa bên ngoài màu xám, bên trên có chữ “Labubu” cho bà Lê Thị Quỳnh N là đúng quy định của pháp luật nên HĐXX không đề cập đến.
Đối với 03 đĩa DVD chứa các đoạn video camera ghi nhận hình ảnh Q trộm cắp tài sản vào các ngày 18 và 22/10/2024 là tài liệu, chứng cứ nên cần lưu tại hồ sơ vụ án.
Ngoài ra, Q khai nhận đã trộm cắp xe mô tô Yamaha Jupiter, màu đen - bạc, biển số: 43Y1-0734 của anh Bùi T1 (sinh năm: 1961, trú: thôn Đ, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng) tại xã H, huyện H, TP .. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận T đã có Công văn số 28/CV-ĐTTH ngày 06/02/2025 về việc trao đổi nguồn tin tội phạm để xử lý theo thẩm quyền đến Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện H, thành phố Đà Nẵng là phù hợp với quy định của pháp luật.
[7] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Án phí Dân sự sơ thẩm bị cáo Phạm Văn Q, ông Phạm Văn Q1, bà Ngô Thị L phải chịu 500.000₫.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố:
Bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm p, q, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn Q 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 22/10/2024 đến ngày 19/01/2025 là 03 tháng nên bị cáo còn phải thi hành 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 27/02/2025.
Căn cứ Điều 56 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 131/2024/HSST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Buộc bị cáo Phạm Văn Q phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 27/02/2025.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ quy định tại Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Phạm Văn Q, ông Phạm Văn Q1, bà Ngô Thị L phải bồi thường cho bà Giang Thị Trà L1 số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng y).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ trả số tiền nêu trên thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự.
3. Án phí HSST:
Bị cáo Phạm Văn Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Án phí DSST bị cáo Phạm Văn Q, ông Phạm Văn Q1, bà Ngô Thị L phải chịu 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng y).
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người bào chữa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thị Mỹ Dung |
Bản án số 70/2025/HSST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP.ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 70/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP.ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Quân phạm tội Trộm cắp tài sản
