Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 – BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2025/HS-ST

Ngày 28-11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – BẮC NINH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Tân Thịnh;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bình Thái và ông Nguyễn Văn Tấn.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Tân - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Bắc Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Bắc Ninh tham gia phiên toà:

Ông Đoàn Đình Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh B xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân T, sinh năm 1984; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, xã B, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn V và con bà: Trần Thị T1; Bị cáo có vợ: Y H, sinh năm 1994 và có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017;

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân:

  • + Quyết định số 92/QĐ-UB ngày 11/01/2001 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh V quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đối với Nguyễn Xuân T về hành vi trộm cắp tài sản, thời hạn 24 tháng. Bị can chấp hành xong ngày 8/10/2002.
  • + Bản án hình sự phúc thẩm số 27/HSPT ngày 30/3/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn Xuân T 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1

Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo đã chấp hành xong án phí và trách nhiệm dân sự.

  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 128/2005/HSST ngày 14/11/2005 của Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Xuân T 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, tổng hợp hình phạt với Bản án phúc thẩm số 27/HSPT ngày 30/3/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 21 tháng tù. Bị can đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 09/4/2007.
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2009/HSST ngày 19/02/2009 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn Xuân T 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự. Bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 30/9/2010.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 8/8/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh B có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh B.

Người làm chứng:

  • - Chị Lô Thị Thúy H1, sinh năm 2006; địa chỉ: Thôn T, xã C, tỉnh Cao Bằng. (vắng mặt)
  • - Chị Phan Thị C, sinh năm 2006; địa chỉ: Xóm A, xã V, tỉnh Nghệ An. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Xuân T là đối tượng sử dụng ma túy từ tháng 5/2024. Khoảng 16 giờ ngày 08/8/2025, T đang ở phòng trọ tại thôn Đ, xã P, tỉnh Bắc Ninh thì có nhu cầu sử dụng ma túy. T đi nhờ xe mô tô của người không quen biết đi đến khu phố Đ, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh mục đích tìm mua ma túy nhưng không tìm được. T tiếp tục bắt xe buýt đi xuống khu vực cầu B thuộc địa phận thôn C, xã P, tỉnh Bắc Ninh xuống xe rồi đi bộ vào thôn C, khi đi đến khu vực chợ C2 cầu cũ thì T gặp một người đàn ông không quen biết khoảng 50 tuổi, dáng người nhỏ con, cao khoảng 1,55m, da ngăm đen, mặc áo sơ mi kẻ sọc caro màu xanh – trắng đi bộ có biểu hiện nghiện ma túy giống T, T tiến lại gần hỏi “anh có hàng trắng không” ý hỏi là có ma túy Heroine không, thì người đàn ông nhìn xung quanh và trả lời “Có, mua bao nhiêu”, T nói “Bán cho em 200.000 đồng”, người đàn ông này lấy từ túi quần phía trước bên phải của mình ra bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng đưa cho T, T lấy 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng từ túi quần phía sau bên phải bằng tay

phải đưa cho người đàn ông, người đàn ông tay trái cầm tiền và đưa bao thuốc lá cho T, T cầm bao thuốc lá bằng tay phải và nhìn thấy gài ở bên ngoài của bao thuốc lá đó có 01 gói giấy bạc màu trắng, T biết đó là ma túy mình cần mua rồi nhanh chóng đút vào túi quần ngố màu xám bên phải phía trước đang mặc rồi tìm nơi để sử dụng, khi đi khỏi chỗ mua ma túy được khoảng 50m thì bị lực lượng Công an xã P, tỉnh Bắc Ninh bắt quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định.

Khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B tiến hành kiểm tra nước tiểu T, kết quả T dương tính với ma túy chất MOP trong nước tiểu.

Tại Bản kết luận giám định số 1716/KL-KTHS ngày 10/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • “+Chất bột màu trắng, dạng cục bên trong 01 (một) gói giấy bạc màu trắng gửi giám định có khối lượng 0,1100 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine (H);
  • + Mẫu nước tiểu ghi thu của Nguyễn Xuân T sinh năm 1984, HKTT: Thôn Đ, xã B, tỉnh Phú Thọ, tìm thấy 6-MAM (6-Monoacetylmorphine) là sản phẩm chuyển hóa của Heroine (H)”

Heroine (H2) có tên khoa học là D là chất ma túy được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma tuý.” (BL 32)

Vật chứng của vụ án: Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng K Công an tỉnh B.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Xuân T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đối với đối tượng bán ma túy, T khai không biết là ai, ở đâu, xác minh tại địa điểm T mua bán ma túy nhưng không xác định được là ai nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra, xử lý.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 19/CT-VKSKV8 ngày 13/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh giữ quyền công tố sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra cho xã hội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên bố Nguyễn Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Nguyễn Xuân T từ 03 năm 06 tháng đến 03 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 08/8/2025.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án:

Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau giám định trong phong bì thư đã được niêm phong.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với vị đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đảm bảo theo trình tự tố tụng hình sự.

[2] Khoảng 18 giờ 05 phút ngày 08/8/2025 tại khu vực chợ C3 cũ thuộc thôn C, xã P, tỉnh Bắc Ninh, Công an xã P, tỉnh Bắc Ninh bắt quả tang Nguyễn Xuân T có hành vi tàng trữ trái phép 0,1100 gam ma túy Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Tuy nhiên chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ tang vật.

[3] Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với thời gian, không gian, địa điểm, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng và vật chứng đã được thu giữ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo: Nguyễn Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt

cho xã hội, làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển Kinh tế - Xã hội của Nhà nước, ảnh hưởng đến sức khỏe, gia đình, hơn nữa ma túy cũng là mầm mống, nguyên nhân phát sinh một số tội phạm khác. Do vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội và có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Xét về nhân thân của bị cáo thấy:

Bị cáo có nhân thân:

  • + Quyết định số 92/QĐ-UB ngày 11/01/2001 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh V quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đối với Nguyễn Xuân T về hành vi trộm cắp tài sản, thời hạn 24 tháng. Bị can chấp hành xong ngày 8/10/2002.
  • + Bản án hình sự phúc thẩm số 27/HSPT ngày 30/3/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn Xuân T 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo đã chấp hành xong án phí và trách nhiệm dân sự.
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 128/2005/HSST ngày 14/11/2005 của Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Xuân T 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, tổng hợp hình phạt với Bản án phúc thẩm số 27/HSPT ngày 30/3/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 21 tháng tù. Bị can đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 09/4/2007.
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2009/HSST ngày 19/02/2009 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn Xuân T 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự. Bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 30/9/2010.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án tiền sự. Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Do bị cáo đang bị tạm giam, để đảm bảo cho việc thi hành án, Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo là phù hợp với Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

[5] Hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, do bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, là lao động duy nhất trong gia đình, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[6] Vật chứng vụ án: Số ma tuý còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành được niêm phong bằng hình dấu của phòng K - Công an tỉnh B tịch thu tiêu hủy.

[7] Đối với người đàn ông bán ma tuý cho T, T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Xuân T vào ngày 5/8/2025, quá trình điều tra xác định T chưa từng đi cai nghiện ma túy, do đó hành vi của T không cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự. Ngày 10/8/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T, hình thức Cảnh cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố Nguyễn Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 08/8/2025.

Tạm giam bị cáo 4 (Bốn năm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/11/2025 để đảm bảo thi hành án.

Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định theo kết luận giám định số C2373/KL-KTHS ngày 12/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh B được niêm phong trong phong bì thư.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/11/2025 giữa Cơ quan cảnh Sát điều tra C1 tỉnh Bắc Ninh và Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 - Bắc Ninh).

Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ
  • Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND khu vực 8 - Bắc Ninh;
  • - Cơ quan cảnh sát điều tra
  • Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - UBND xã Bình Nguyên, tỉnh Phú Thọ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Tân Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2025/HS-ST ngày 28/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 70/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân Thanh phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger