|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 70/2025/HS-ST Ngày 27-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hùng
Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Lợi
Bà Hà Thị Bàn
Bà Nguyễn Trang Nhung
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thuỳ Dung - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai,
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:
Lê Thị V sinh ngày 30 tháng 9 năm 1971, tại tỉnh Lào Cai; số CCCD: [...], cấp ngày 24/7/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH Bộ C1;
Nơi cư trú: Tổ B, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai (nay là tổ B, phường L, tỉnh Lào Cai); nơi ở hiện tại: Số nhà E, đường N, tổ B, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai (nay là số nhà E, đường N, phường C, tỉnh Lào Cai); nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Giáy; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Khắc B và bà Lý Thị N (T); có chồng là Đào Phúc T1 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam ngày 05/3/2025, hiện tạm giam tại Trại Tạm giam số 1 - Công an tỉnh L (có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa của bị cáo Lê Thị V: Ông Lê Thanh H - Luật sư thuộc Văn phòng L1, Đoàn luật sư tỉnh L, địa chỉ: Số A, đường L, phường L, tỉnh Lào Cai; có mặt.
- Bị hại:
- Lê Thị H1, sinh năm 1969, trú tại: Khu H, xã Đ, tỉnh Phú Thọ; có mặt.
- Lưu Thị X, sinh năm 1986, trú tại: Thôn C, xã T, tỉnh Lào Cai; vắng mặt.
- Trịnh Bá Đ, sinh năm 1985, trú tại: Thôn G, xã G, tỉnh Lào Cai; có mặt.
- Phạm Thị P, sinh năm 1969, trú tại: Thôn H, xã G, tỉnh Lào Cai; có mặt.
- Nguyễn Thị T2, sinh năm 1964, trú tại: Thôn T, xã G, tỉnh Lào Cai; có mặt.
- Lò Thị T3, sinh năm 1995, trú tại: Thôn G, xã G, tỉnh Lào Cai; có mặt.
- Vũ Thị G, sinh năm 1991, trú tại: Thôn T, xã G, tỉnh Lào Cai; vắng mặt.
- Trần Thị N1, sinh năm 1969, trú tại: Thôn H, xã G, tỉnh Lào Cai; có mặt.
- Phạm Thị H2, sinh năm 1990, trú tại: Thôn G, xã G, tỉnh Lào Cai; vắng mặt.
- Nguyễn Văn B1, sinh năm 1992, trú tại: Thôn H, xã G, tỉnh Lào Cai; vắng mặt.
- Lục Thị H3, sinh năm 1980, trú tại: Thôn L, xã B, tỉnh Lào Cai; vắng mặt.
- Vàng Thị M, sinh năm 1977, trú tại: Tổ dân phố N, xã B, tỉnh Bắc Hà; có mặt.
- Lê Thị T4, sinh năm 1976, trú tại: Thôn S, xã B, tỉnh Lào Cai; có mặt.
- Phạm Thị L, sinh năm 1956, trú tại: Thôn N, xã B, tỉnh Lào Cai; có mặt.
- Vàng Thị V1, sinh năm 1978, trú tại: Thôn N, xã B, tỉnh Lào Cai; có mặt.
- Vàng Thị H4, sinh năm 1988, trú tại: Thôn T, xã Y, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
- Trần Văn C, sinh năm 1983, trú tại: số A N, phường N, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
- Vàng Thị M1, sinh năm 1987, trú tại: Thôn Đ, xã B, tỉnh Lào Cai; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ năm 2016 đến cuối năm 2024, do không có tiền để trả nợ và chỉ tiêu cá nhân nên Lê Thị V đã đưa ra thông tin gian dối đối với 18 người có nhu cầu xin việc làm cho con và chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang đất thổ cư, để chiếm đoạt tiền của các bị hại cụ thể.
- Năm 2016, chị Lê Thị H1 chuyển 270.000.000 đồng cho Lê Thị V để xin việc làm cho con trai bà H1 tại Sở Nông Nghiệp tỉnh L. V đồng ý và hẹn trong một năm sẽ bố trí được công việc cho con chị H1. Sau khi nhận tiền V không xin được việc làm cho con chị H1 và đã sử dụng số tiền đó vào việc trả nợ và chỉ tiêu cá nhân. Hiện V đã trả cho chị H1 được 10.000.000 đồng.
- Tháng 7 năm 2021, chị X nhờ Lê Thị V làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng của hai thửa đất đang sử dụng sang đất thổ cư, V đồng ý đề nghị chị X đưa cho V 570.000.000 đồng (trong đó: tiền công là 300.000.000 đồng, còn tiền thuế là 270.000.000 đồng), V hẹn chị X trong thời hạn một năm sẽ làm song các thủ tục và có GCNQSDĐ cho chị X. Sau khi nhận tiền V không làm được thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho chị X, số tiền nhận của chị X, V dùng vào việc trả nợ và chỉ tiêu cá nhân. Hiện V chưa trả tiền cho gia đình chị X.
- Tháng 6 năm 2023, anh Trịnh Bá Đ nhờ Lê Thị V đứng ra làm thủ tục, giấy tờ để chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây hàng năm sang đất thổ cư, V đồng ý và thống nhất trong thời gian ba tháng sẽ làm xong giấy tờ và anh Đ phải trả cho V số tiền công là 70.000.000 đồng và 30.000.000 đồng tiền nộp thuế đất, anh Đ đã chuyển cho V tổng là 100.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền V không làm được thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho gia đình anh Đ, số tiền nhận của anh Đ, V dùng vào việc trả nợ và chỉ tiêu cá nhân, V không làm được thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho gia đình anh Đ. Đến ngày 23/02/2025, V mới trả cho anh Đ được 40.000.000 đồng.
- Vào đầu tháng 5 năm 2024, bà Phạm Thị P nhờ Lê Thị V làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng 400m² đất, từ đất trồng cây lâu năm, đất trồng cây hàng năm sang đất thổ cư và bà P phải đưa cho V số tiền 100.000.000 đồng tiền công để đi làm các thủ tục, chưa có tiền thuế đất. Sau đó, V nói với bà P nêu muốn tách 400m² đất ra thành hai thửa thì phải đưa thêm cho V số tiền công là 100.000.000 đồng để làm giấy tờ và hẹn trong thời gian 6 tháng sẽ làm song thủ tục và trả GCNQSDĐ, bà P đã chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng cho V là 160.000.000 đồng và 20.000.000 đồng tiền mặt. Số tiền nhận của gia đình bà P V đã dùng vào việc trả nợ và chỉ tiêu cá nhân, V không làm được thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho bà P. Đến ngày 24/2/2025, V mới trả cho bà P được 40.000.000đồng.
- Tháng 7 năm 2024, bà Nguyễn Thị T2 nhờ Lê Thị V làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng hai thửa đất trồng cây hàng năm sang đất thổ cư V đồng ý, bà T2 đã đưa cho V là 230.000.000 đồng và V viết giấy biên nhận tiền đưa lại cho bà T2, sau khi nhận tiền V hẹn trong thời gian 03 tháng sẽ làm song thủ tục và có GCNQSDĐ giao cho bà T2. Sau khi nhận tiền của gia đình bà Thìn V2 đã dùng vào việc trả nợ và chỉ tiêu cá nhân, V2 không làm được thủ tục chuyên đổi mục đích sử dụng đất cho bà T2. Đến ngày 26/12/2024, V2 mới trả cho bà T2 được 40.000.000 đồng.
- Tháng 6 năm 2023, chị Lô Thị T5 đã liên hệ và nhờ Lê Thị V làm thủ tục, giấy tờ để chuyển đổi mục đích sử dụng đất, từ đất trồng cây lâu năm sang đất thổ cư đối với thửa mà chị T5 đang sử dụng. Lê Thị V đồng ý, sau khi thống nhất chị T5 đã chuyển cho V số tiền 100.000.000 đồng để làm giấy tờ, thủ tục (trong đó: 70.000.000 đồng là tiền công cho V làm giấy tờ và 30.000.000 đồng là để nộp thuế). Sau khi nhận tiền V hẹn với chị T5 trong vòng 03 tháng sẽ làm song và lấy được giấy tờ như thoả thuận. Số tiền nhận của gia đình chị T5, V đã dùng vào việc trả nợ và chỉ tiêu cá nhân, V không làm được thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho chị T5. Đến ngày 26/12/2024, V đã trả 100.000.000 đồng cho chị Lò Thị T3.
- Tháng 9 năm 2023, chị Vũ Thị G nhờ Lê Thị V làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng thửa đất rừng sản xuất diện tích là 450m² sang thành đất thổ cư. V đồng ý và hẹn trong tháng 12 năm 2023 sẽ làm xong giấy tờ và có GCNQSDĐ theo thoả thuận. Số tiền nhận của chị G là 110.000.000 đồng, V đã dùng vào việc trả nợ và chỉ tiêu cá nhân, V không làm được thủ tục chuyển đối mục đích sử dụng đất cho chị G. Đến ngày 10/12/2024, V đã trả đủ 110.000.000 đồng cho chị Vũ Thị G.
- Tháng 5 năm 2024, bà Trần Thị N1 nhờ Lê Thị V làm thủ tục, giấy tờ chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất vườn tạp sang đất thổ cư. V đồng ý, sau khi thống nhất, bà N1 đã chuyển cho bà V số tiền 120.000.000 đồng (trong đó: T6 công trả cho V để làm giấy tờ là 100.000.000 đồng, tiền thuế đất là 20.000.000 đồng), V cam kết trong vòng 03 tháng sẽ làm song các thủ tục và lấy được GCNQSDĐ giao cho bà N1. Sau khi nhận tiền nhận của gia đình bà N1, V đã dùng vào việc trả nợ và chỉ tiêu cá nhân, V không làm được thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho bà N1. Đến ngày 17/12/2024, V đã trả đủ 120.000.000 đồng cho bà N1.
- Vào đầu tháng 6 năm 2024, chị Phạm Thị H2 nhờ Lê Thị V chuyển đổi mục đích sử dụng thửa đất vườn tạp diện tích khoảng 600m² mà chị H2 mua lại của gia đình bà Trần Thị N1. V đồng ý và hẹn trong vòng 03 tháng sẽ làm song, lấy được GCNQSDĐ giao cho gia đình chị H2. Sau khi nhận được 235.000.000 đồng mà chị H2 chuyển V đã dùng vào việc trả nợ và chỉ tiêu cá nhân, V không làm được thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho chị H5. Hiện V chưa trả tiền cho chị H2.
- Tháng 6 năm 2024, anh Nguyễn Văn B1 nhờ Lê Thị V làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng thửa đất từ đất vườn tạp sang đất thổ cư. Hai bên thoả thuận để làm được GCNQSDĐ sang đất thổ cư thì anh B1 phải đưa cho V số tiền 110.000.000 đồng (trong đó: 10.000.000 đồng tiền đo đạc đính chính thông tin trong GCNQSDĐ và 100.000.000 đồng tiền công), V hẹn trong thời gian 06 tháng sẽ có GCNQSDĐ giao cho anh B1. Sau khi nhận tiền nhận của gia đình anh B1, V đã dùng vào việc trả nợ và chỉ tiêu cá nhân, V không làm được thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho anh B1. Hiện V chưa trả tiền cho anh B1
- Tháng 12 năm 2024, chị Lục Thị H3 nhờ Lê Thị V làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất, V đồng ý và đề nghị chị H3 phải đưa cho V số tiền 180.000.000 đồng (trong đó: 10.000.000 đồng là tiền đo đạc, 70.000.000 đồng tiền nộp thuế đất, 100.000.000 đồng tiền công), V hẹn trong thời gian 06 tháng sẽ hoàn thiện các thủ tục và giao GCNQSDĐ cho chị H3. Sau khi nhận tiền nhận của chị H3, V đã dùng vào việc trả nợ và chỉ tiêu cá nhân, V không làm được thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho chị H3. Hiện V chưa trả tiền cho chị H3.
- Tháng 12 năm 2024, chị Vàng Thị M nhờ Lê Thị V làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng hai thửa đất sang đất thổ cư. V đồng ý đề nghị chị M đưa cho V số tiền 300.000.000 đồng và hẹn trong thời gian 06 tháng sẽ có GCNQSDĐ giao cho chị M. Sau khi nhận số tiền 250.000.000 đồng của chị M, V đã dùng vào việc trả nợ và chỉ tiêu cá nhân, V không làm được thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho chị mai. Hiện V chưa trả số tiền 250.000.000 đồng cho chị M.
- Tháng 10 năm 2024, chị Lê Thị T4 nhờ Lê Thị V làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng thửa đất sang đất thổ cư. V thoả thuận để làm được GCNQSDĐ sang đất thổ cư thì chị T4 phải đưa cho V số tiền 260.000.000 đồng và hẹn trong thời gian từ 03 đến 06 tháng sẽ có GCNQSDĐ giao cho chị T4. Sau khi nhận số tiền 260.000.000 đồng của chị T4, V đã dùng vào việc trả nợ và chỉ tiêu cá nhân, V không làm được thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho chị T4. Hiện V chưa trả số tiền 260.000.000 đồng cho chị T4.
- Tháng 12 năm 2024, bà Phạm Thị L nhờ Lê Thị V chuyển đổi mục đích sử dụng hai thửa đất sang đất thổ cư, V đồng ý và thoả thuận để làm được GCNQSDĐ sang đất thổ cư cho hai thửa đất, thì bà L phải đưa cho V số tiền 160.000.000 đồng, V hẹn trong thời gian từ 03 đến 06 tháng sẽ có GCNQSDĐ giao cho bà L. Sau khi nhận số tiền 100.000.000 đồng của bà L, V đã dùng vào việc trả nợ và chỉ tiêu cá nhân, V không làm được thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho bà L. Hiện V chưa trả số tiền 100.000.000đồng cho bà L.
- Tháng 10 năm 2024, chị Vàng Thị V1 nhờ V chuyển đổi mục đích sử dụng thửa đất đang sử dụng sang đất thổ cư, V đồng ý và đề nghị chị V1 đưa số tiền 170.000.000 đồng để làm thủ tục và hẹn trong thời gian 03 đến 06 tháng sẽ giao GCNQSDĐ cho chị V1. Sau khi nhận số tiền 120.000.000 đồng của chị V1, V đã dùng vào việc trả nợ và chỉ tiêu cá nhân, V không làm được thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho chị V1. Hiện V chưa trả số tiền 120.000.000 đồng cho chị V1.
- Tháng 11/2024, chị Vàng Thị H4 nhờ chị Vàng Thị V1 liên hệ với Lê Thị V để làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang đất thổ cư, V đồng ý và đề nghị chị H4 đưa số tiền 270.00.000 đồng để làm thủ tục và hẹn trong thời gian 03 đên 06 tháng sẽ giao GCNQSDĐ cho chị H4. Sau khi nhận số tiền 270.000.000 đồng của chị H4, V đã dùng vào việc trả nợ và chỉ tiêu cá nhân, V không làm được thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho chị H4. Hiện V chưa trả số tiền 270.000.000 đồng cho chị H4.
- Tháng 11/2024, anh Trần Văn C nhờ chị Vàng Thị V1 liên hệ với Lê Thị V để làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang đất thổ cư, V đồng ý và đề nghị anh C đưa số tiền 255.00.000 đồng để làm thủ tục và hẹn trong thời gian 03 đến 06 tháng sẽ giao GCNQSDĐ cho anh C. Sau khi nhận số tiền 255.000.000 đồng của anh C, V đã dùng vào việc trả nợ và chỉ tiêu cá nhân, V không làm được thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho anh C. Hiện V chưa trả số tiền 255.000.000 đồng cho anh C.
- Tháng 12/2024, chị Vàng Thị M1 nhờ chị Vàng Thị V1 liên hệ với Lê Thị V để làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng thủa đất sang đất thổ cư, V đồng ý và đề nghị đưa số tiền 250.00.000 đồng để làm thủ tục và hẹn trong thời gian 03 đến 06 tháng sẽ giao GCNQSDĐ cho chị M1. Sau khi nhận số tiền 250.000.000 đồng của chị M1, V đã dùng vào việc trả nợ và chi tiêu cá nhân, V không làm được thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho chị M1. Hiện V chưa trả số tiền 250.000.000đồng cho chị M1.
Quá trình điều tra Lê Thị V đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tôi. Tổng số tiền V đã chiếm đoạt của 18 bị hại là 3.710.000.000 đồng (ba tỷ bảy trăm mười triệu đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Lê Thị V đã trả được cho Lê Thị H1 10.000.000 đồng, Trịnh Bá Đ được 40.000.000đồng, Phạm Thị P 40.000.000 đồng, Nguyễn Thị T2 40.000.000 đồng, Lò Thị T3 100.000.000 đồng, Vũ Thị G 110.000.000 đồng, Trần Thị N1 120.000.000 đồng.
Bản Cáo trạng số: 27/CT-VKS-P2 ngày 26 tháng 9 năm 2025, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố Lê Thị V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thị V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- - Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Phạt bị cáo Lê Thị V từ 12 năm đến 14 năm tù.
- - Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Lê Thị V phải bồi thường cho các bị hại số tiền đã chiếm đoạt.
- - Về án phí: Tuyên theo quy định của pháp luật.
- * Người bào chữa của bị cáo Lê Thị V đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo khởi điểm của khung hình phạt.
- * Bị cáo thành khẩn khai báo, lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
- * Bị hại: Lê Thị H1 yêu cầu bị cáo còn phải trả 130.000.000 đồng; Phạm Thị P yêu cầu bị cáo còn phải trả 80.000.000 đồng; Phạm Thị L yêu cầu bị cáo còn phải trả 50.000.000 đồng;
- Bị hại Trần Thị N1, Lê Thị H1, Vàng Thị M, Lê Thị T4, Phạm Thị L, Vàng Thị V1 đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo;
- Các bị hại còn lại yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã chiếm đoạt và xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trong hồ sơ nên sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về tội danh: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, vật chứng thu giữ trong vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đã đủ căn cứ xác định:
Từ năm 2016 đến năm 2024, do cần tiền để trả nợ và tiêu xài cá nhân nên Lê Thị V đã đưa ra những thông tin không đúng sự thật như bản thân có khả năng xin việc, chuyển thủ tục hành chính để cơ quan nhà nước ra quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho người dân để chiếm đoạt tiền của 18 người. Tổng số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của các bị hại là 3.710.000.000 đồng.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác nhưng vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, với hành vi nêu trên bị cáo Lê Thị V phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Bị cáo Lê Thị V bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Phạm tội 02 lần trở lên" theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Lê Thị V là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã trả cho các bị hại số tiền 460.000.000 đồng, quá trình công tác được tặng giấy khen, tấm lòng vàng, mẹ đẻ của bị cáo có Huy chương kháng chiến công hạng nhì, một số bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lê Thị V thấy rằng áp dụng mức hình phạt khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là đã đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Xét yêu cầu bồi thường của các bị hại là có căn cứ nên được chấp nhận. Cần buộc bị cáo phải trả cho các bị hại số tiền như sau:
- - Lê Thị H1 270.000.000 đồng (xác nhận đã trả 10.000.000 đồng); còn 260.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị hại Lê Thị H1 chỉ yêu cầu bị cáo còn phải trả số tiền là 130.000.000 đồng.
- - Lưu Thị X 570.000.000 đồng.
- - Trịnh Bá Đ 100.000.000 đồng (xác nhận đã trả 40.000.000 đồng); còn 60.000.000 đồng.
- - Phạm Thị P 180.000.000 đồng (xác nhận đã trả 40.0000.000 đồng); còn 140.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị hại Phạm Thị P chỉ yêu cầu bị cáo còn phải trả số tiền là 80.000.000 đồng.
- - Nguyễn Thị T2 230.000.000 đồng (xác nhận đã trả 40.000.000 đồng); còn 190.000.000 đồng.
- - Lò Thị T3 100.000.000 đồng (xác nhận đã trả đủ 100.000.000 đồng).
- - Vũ Thị G 110.000.000 đồng (xác nhận đã trả đủ 110.000.000 đồng).
- - Trần Thị N1 120.000.000 đồng (xác nhận đã trả đủ 120.000.000 đồng).
- - Phạm Thị H2 235.000.000 đồng;
- - Nguyễn Văn B1 110.000.000 đồng;
- - Lục Thị H3 180.000.000 đồng;
- - Vàng Thị M 250.000.000 đồng;
- - Lê Thị T4 260.000.000 đồng;
- - Phạm Thị L 100.000.000 đồng; tại phiên tòa bị hại Phạm Thị L chỉ yêu cầu bị cáo còn phải trả số tiền là 50.000.000 đồng.
- - Vàng Thị Vui 120.000.000 đồng;
- - Vàng Thị H4 270.000.000 đồng;
- - Trần Văn C 255.000.000 đồng;
- - Vàng Thị M1 250.000.000 đồng.
[7] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp nên cần chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định;
[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thị V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
- Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị V 12 (mười hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/3/2025.
- Trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 46, 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Lê Thị V phải bồi thường cho các bị hại như sau:
- - Lê Thị H1 130.000.000 đồng (một trăm ba mươi triệu đồng);
- - Lưu Thị X 570.000.000 đồng (năm trăm bảy mươi triệu đồng);
- - Trịnh Bá Đ 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng);
- - Phạm Thị P 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng);
- - Nguyễn Thị T2 190.000.000 đồng (một trăm chín mươi triệu đồng).
- - Phạm Thị H2 235.000.000 đồng (hai trăm ba mươi lăm triệu đồng);
- - Nguyễn Văn B1 110.000.000 đồng (một trăm mười triệu đồng);
- - Lục Thị Hiền 180.000.000 đồng (một trăm tám mươi triệu đồng);
- - Vàng Thị M 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng);
- - Lê Thị T4 260.000.000 đồng (hai trăm sáu mươi triệu đồng);
- - Phạm Thị L 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng);
- - Vàng Thị Vui 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng);
- - Vàng Thị H4 270.000.000 đồng (hai trăm bảy mươi triệu đồng);
- - Trần Văn C 255.000.000 đồng (hai trăm năm mươi lăm triệu đồng);
- - Vàng Thị M1 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng);
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Lê Thị V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 92.200.000 đồng (chín mươi hai triệu hai trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Mạnh Hùng |
Bản án số 70/2025/HS-ST ngày 27/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 70/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Từ năm 2016 đến năm 2024, do cần tiền để trả nợ và tiêu xài cá nhân nên Lê Thị Vân đã đưa ra những thông tin không đúng sự thật như bản thân có khả năng xin việc, chuyển thủ tục hành chính để cơ quan nhà nước ra quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho người dân để chiếm đoạt tiền của 18 người. Tổng số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của các bị hại là 3.710.000.000 đồng.
