Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - SƠN LA

Bản án số: 70/2025/HS-ST

Ngày 23 - 12 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Hải Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Chinh Chiến và bà Phạm Thị Nhung.

Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Nga, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tham gia phiên toà:

Bà Hoàng Thị Thanh Nga, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 65/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 77/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Vì Văn B, sinh ngày: 19/11/1997 tại xã L, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản B, xã L, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vì Văn T và bà Vì Thị V; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Tại Quyết định số 228/QĐ- TA ngày 17/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, Vì Văn B bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng. Đã chấp hành xong ngày 17/9/2020. (Đã được xóa tiền sự).
  • + Tại Quyết định số 135/QĐ- TA ngày 06/7/2021 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, Vì Văn B bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng. Đã chấp hành xong ngày 06/7/2023. (Đã được xóa tiền sự).

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/9/2025 đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 31/8/2025, Vì Văn B đi bộ từ nhà đến bản A, xã L để tìm mua ma túy cho bản thân sử dụng. Khi đến nơi, B gặp và hỏi mua được của một người đàn ông không quen biết 05 viên hồng phiến được bọc trong mảnh nilon màu hồng với giá 150.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, B dùng bật lửa và giấy bạc chuẩn bị sẵn lấy 03 viên hồng phiến sử dụng bằng hình thức đốt, hít khói vào cơ thể. Sau khi sử dụng xong ma túy, B vứt dụng cụ sử dụng ma túy và gói lại 02 viên hồng phiến rồi cất giấu ở túi quần bên phải. Khi B đi bộ đến bản B, xã L thì gặp tổ công tác Công an xã L, kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của Vì Văn B: 01 gói nilon màu hồng bên trong đựng 02 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu “WY”, nghi là ma túy, loại Methamphetamine.

Ngày 01/9/2025, Công an xã L, tỉnh Sơn La tiến hành Test thử ma túy đối với Vì Văn B, kết quả dương tính. Xác minh Vì Văn Bằng không thuộc diện nào theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự.

Ngày 01/9/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành xác định khối lượng 02 viên nén màu hồng trên bề mặt đều có ký hiệu “WY” nghi là ma túy tổng hợp thu giữ của Vì Văn Bằng được 0,20 gam, lấy toàn bộ khối lượng 0,20 gam làm mẫu trưng cầu giám định. Mẫu có ký hiệu B.

Tại Kết luận giám định số 1084/KL-KTHS ngày 05/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu B gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,2 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,2 gam; Loại Methamphetamine. H lại đối tượng giám định: Mẫu giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.

Cáo trạng số 64/CT-VKS ngày 18/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La truy tố bị can Vì Văn Bằng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

* Tại phiên tòa: Bị cáo Vì Văn Bằng trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

* Tranh luận tại phiên tòa:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vì Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
  • + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Xử phạt bị cáo Vì Văn B từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • + Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng còn lại vụ Vì Văn Bằng, bắt ngày 01/9/2025 (01 mảnh nilon màu hồng).
  • - Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Vì Văn B nhất trí với toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.

* Lời nói sau cùng: Bị cáo Vì Văn Bằng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Vì Văn B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, số ma túy bị cáo bị tổ công tác Công an xã L, tỉnh Sơn La thu giữ vào ngày 01/9/2025 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông không quen biết với giá 150.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an xã L, tỉnh Sơn La lập vào hồi 01 giờ 00 phút ngày 01/9/2025; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Vì Văn B là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 01/9/2025 bị cáo Vì Văn B đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,2 gam Methamphetamine, (Methamphetamine nằm trong danh mục II, mục IIc, số thứ tự 247 tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất) nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Do hành vi của bị cáo được thực hiện sau 0 giờ 00 phút ngày 01/7/2025, nên áp dụng khoản 18 Điều 1 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội sửa đổi, bổ sung Điều 249 Bộ luật hình sự, khung hình phạt tù xét xử đối với bị cáo từ 03 năm đến 05 năm.

Vì vậy, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy và đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 02 lần (đã được xoá tiền sự), tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục tái nghiện ma túy.

[5] Về mức hình phạt áp dụng: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, nhưng xét thấy bị cáo làm nghề trồng trọt, thu nhập không ổn định, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì bên trong đựng mảnh nilon màu hồng, xét thấy là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[8] Về án phí: Bị cáo Vì Văn Bằng phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[10] Về các vấn đề khác:

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Vì Văn B: Khi bắt quả tang đối với Vì Văn B, Công an xã L đã tiến hành test ma túy đối với Vì Văn B, kết quả dương tính với chất ma túy. Tuy nhiên, kết quả xác minh với UBND xã L (nơi bị cáo đang cư trú) xác định bị cáo Vì Văn Bằng không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự. Xét thấy hành vi của Vì Văn B không đủ yếu tố cấu thành tội sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S không tiến hành mở rộng, điều tra về hành vi này; Công an tỉnh S không ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Vì Văn B.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Vì Văn B, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý. Buộc Vì Văn B phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về số ma túy đã bị thu giữ.

Thời hạn tạm giam đối với bị cáo còn lại dưới 45 ngày, do đó Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tuyên bố bị cáo Vì Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Vì Văn B 42 (bốn mươi hai) tháng tù.

Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 01/9/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng của vụ án:

Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng còn lại vụ Vì Văn Bằng, bắt ngày 01/9/2025 (01 mảnh nilon màu hồng).

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 52/BBVC-THA ngày 20/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Sơn La).

3. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Vì Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/12/2025).

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - Công an tỉnh Sơn La;
  • - VKSND khu vực 6 – Sơn La;
  • - Phòng THADS khu vực 6 - Sơn La;
  • - Trại giam Công an tỉnh;
  • - THAHS;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Tăng Thị Hải Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2025/HS-ST ngày 23/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 70/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Tuyên bố bị cáo Vì Văn phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Vì Văn 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 01/9/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger