TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - QUẢNG NGÃI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.
Bản án số: 70/2025/HS-ST
Ngày: 19-11-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Loan.
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Nguyễn Thị Thanh
Ông Nguyễn Phùng Xuân Thu
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Nương – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thương Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2025, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 174/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Sỹ T, sinh ngày 21/8/1989, nơi sinh tại tỉnh Thanh Hoá; nơi thường trú: Phố C, phường N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Không, trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Sỹ C và bà Cao Thị L; vợ Hà Thị M (đã ly hôn), có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 27/11/2019, bị cáo Lê Sỹ T bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa (cũ), tỉnh Thanh Hoá xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 361/2019/HSST. Bị cáo đã nộp án phí và chấp hành xong án phạt tù vào ngày 13/3/2021, đã xóa án tích.
Ngày 25/11/2021, bị cáo Lê Sỹ T bị Công an xã H, thành phố T (cũ), tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng. Bị cáo đã chấp hành nộp tiền vào ngày 26/11/2021.
Ngày 22/8/2022, bị cáo Lê Sỹ T bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa (cũ), tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 08/02/2024, bị cáo chấp hành xong.
1
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/3/2025 cho đến nay.
- Bị hại: Công ty Cổ phần Đ1, địa chỉ: C đường N, phường C, tỉnh Quảng Ngãi. Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Xuân T1, chức vụ: Giám đốc. Có đơn xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Lê Thị T2, sinh năm: 1982; nơi thường trú: Thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk, chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã V, tỉnh Quảng Ngãi. Có đơn xin vắng mặt.
+ Bà Đào Thị Thùy T3, sinh năm: 1988; địa chỉ: Thôn V, xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 03 giờ sáng ngày 16/03/2025, Lê Sỹ T mượn xe mô tô, biển kiểm soát: 60M1 1299 của bạn gái là chị Lê Thị T2 đi từ nhà trọ ở thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi (nay là: Thôn T, xã V, tỉnh Quảng Ngãi) đến nhà người phụ nữ tên “Bà M1” (khoảng 60 tuổi, T không biết nhân thân lai lịch) ở đường H thuộc phường N, thành phố Q (cũ), nay là phường C, tỉnh Quảng Ngãi, bị cáo T không nhớ số nhà) mua 01 tép ma túy Heroin với giá 200.000 đồng. Sau khi mua ma túy H, T điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát: 60M1 – 1299 đến C tỉnh Quảng Ngãi thuộc tổ H, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi (nay là: Tổ H, phường C, tỉnh Quảng Ngãi) để sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng ma túy xong thì T nhìn thấy tại khu vực Công viên có nhiều đoạn ống nhựa được chôn dưới đất, bên trong ống nhựa có nhiều sợi dây cáp điện và 01 sợi dây cáp đồng nổi lên trên mặt đất nên nảy sinh ý định trộm cắp sợi dây cáp đồng để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. T đi đến dùng tay kéo lấy 06 sợi dây cáp đồng trong 06 đoạn ống nhựa và cuộn tròn lại thành 06 cuộn dây đồng riêng lẻ. Sau đó, T điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát: 60M1 – 1299 chở 06 cuộn dây đồng đến bán cho T4 mua bán phế liệu của bà Đào Thị Thùy T3 với số tiền 2.175.000 đồng. T sử dụng số tiền trên để tiêu xài cá nhân và còn lại số tiền 150.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 14/KL-HĐĐGTTHS ngày 26/3/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Q (cũ), kết luận tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là 3.285.114 đồng.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã tạm giữ của Lê Sỹ T:
- 01 mũ lưỡi trai bằng vải, màu xám (đã qua sử dụng);
- 01 mũ bảo hiểm màu xanh lá cây, viền màu trắng, bên trên mũ có ghi dòng chữ “TRUNG TÂM XE ĐIỆN CHÍNH HÃNG TUẤN VINH” (đã qua sử dụng);
- Tiền Ngân hàng N: 150.000 đồng.
- 01 xe mô tô kiểu dáng WAVE, màu đỏ, biển kiểm soát 60M1-1299: Qua điều tra xác định chủ xe mô tô này là ông Nguyễn Đức T5 (địa chỉ: G Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai), qua tra cứu không có trong cơ sở dữ liệu
2
xe máy vật chứng. Vào khoảng tháng 3/2024, bà Lê Thị T2 mua lại chiếc xe này tại Tiệm xe máy cũ ở thành phố Q (cũ) và có giấy bán xe từ người đàn ông tên Trần Như Đ (địa chỉ: Hẻm C H, phường N, tỉnh Quảng Ngãi), sau đó ông Đ đưa giấy đăng ký xe này cho bà T2. Cơ quan điều tra đã xác minh nơi cư trú của ông Nguyễn Đức T5 và Trần Như Đ nhưng chưa có thông tin. Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho bà Lê Thị T2.
Tạm giữ từ bà Đào Thị Thùy T3: 06 cuộn dây bằng kim loại đồng. Cơ quan điều tra xác định đây là tài sản bị trộm cắp của Công ty Cổ phần Đ1 nên đã trả lại cho người đại diện hợp pháp của Công ty là ông Nguyễn Văn T6.
Cáo trạng số: 28/CT-VKS ngày 12/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi truy tố Lê Sỹ T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt: Bị cáo Lê Sỹ T từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu về phần dân sự. Số tiền 150.000 đồng thu giữ của bị cáo, đề nghị trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đào Thị Thùy T3. Và đề nghị xử lý vật chứng.
Ý kiến tranh luận của bị cáo: Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như tại phần tóm tắt nội dung vụ án. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định:
Khoảng 03 giờ ngày 16/3/2025, để có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo Lê Sỹ T đã có hành vi trộm cắp 06 sợi dây cáp đồng tại C tỉnh Quảng Ngãi (tổ H, phường N, thành phố Q, - Nay là: Tổ H, phường C, tỉnh Quảng Ngãi). Sau đó, Lê Sỹ T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 60M1-1299 chở 06 cuộn dây đồng đến tiệm
3
mua bán phế liệu của bà Đào Thị Thùy T3 bán với số tiền 2.175.000 đồng, bị cáo T tiêu xài cá nhân còn lại 150.000 đồng. Kết luận định giá tài sản đối với 06 cuộn dây đồng có giá trị là: 3.285.114 đồng. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi truy tố bị cáo Lê Sỹ T phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo Lê Sỹ T là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện, bị cáo lợi dụng sự quản lý sơ hở, mất cảnh giác của người có tài sản để trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội ở địa phương, làm cho quần chúng Nhân dân hoang mang lo sợ.
[3] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Ngày 27/11/2019, bị cáo Lê Sỹ T bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa (cũ), tỉnh Thanh Hoá xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 361/2019/HSST, bị cáo đã nộp án phí và chấp hành xong án phạt tù vào ngày 13/3/2021, đã được xóa án tích. Theo hướng dẫn tại mục 9 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao nên bị cáo được áp dụng tình tiết “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai, ăn năn hối cải nhận hành vi phạm tội, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo có nhân thân xấu.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Công ty Cổ phần Đ1 không có yều cầu gì về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đào Thị Thùy T3 (chủ tiệm phế liệu) có ý kiến: Số tiền 2.175.000 đồng bà T3 mua các sợi dây đồng của bị cáo T, bị cáo đã tiêu xài hết 2.025.000 đồng, bà không yêu cầu bị cáo phải trả lại, còn lại 150.000 đồng thu giữ trên người bị cáo, bà yêu cầu bị cáo trả lại nên tuyên trả lại cho bà T3 số tiền 150.000 đồng theo Uỷ nhiệm chi ngày 12/9/2025.
[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
01 mũ lưỡi trai bằng vải, màu xám (đã qua sử dụng); 01 mũ bảo hiểm màu xanh lá cây, viền màu trắng, tuyên tiêu huỷ.
[6] Các đối tượng liên quan trong vụ án:
Bà Đào Thị Thùy T3 – chủ tiệm phế liệu ở B: Bà T3 không biết 06 cuộn dây đồng mà bị cáo Lê Sỹ T bán là do trộm cắp mà có. Do đó, hành vi của bà
4
Đào Thị Thùy T3 không có dấu hiệu của tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Bà Lê Thị T2 (bạn gái của Lê Sỹ T), bà T2 cho bị cáo T mượn xe mô tô Biển kiểm soát 60M1-1299 để đi làm, bà không biết T mượn xe đi trộm cắp tài sản nên không đồng phạm với T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tại phiên tòa về tội danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhẹ hình sự và các vấn đề khác phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận. Riêng về mức hình phạt có phần nghiêm khắc.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 173, Điều 50, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều 106, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Sỹ T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Sỹ T 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/3/2025.
4. Về trách nhiệm dân sự: Tuyên trả lại cho bà Đào Thị Thùy T3 số tiền 150.000 đồng theo Uỷ nhiệm chi ngày 12/9/2025.
5. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên tiêu huỷ 01 mũ lưỡi trai bằng vải, màu xám (đã qua sử dụng); 01 mũ bảo hiểm màu xanh lá cây, viền màu trắng.
(Vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/9/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Chi cục Thi hành án dân sự khu vực 1 - Quảng Ngãi).
6. Về án phí: Bị cáo Lê Sỹ T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đào Thị Thùy T3 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Quảng Ngãi;
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- Phòng Cảnh sát hình sự; Phòng hồ sơ nghiệp vụ (PV 06) Công an tỉnh Quảng Ngãi;
- VKSND khu vực 1 - Quảng Ngãi;
- THADS tỉnh Quảng Ngãi;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu: Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Lê Thị Kim Loan
5
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Lê Thị Kim Loan
6
7
8
Bản án số 70/2025/HS-ST ngày 19/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NGÃI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 70/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Sỹ T, Trộm cắp tài sản
