TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 70/2025/HS-ST Ngày 17 tháng 6 năm 2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trọng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Kim Thúy và ông Nguyễn Quang Bằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Xuân Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:
Phạm Thị P, sinh ngày 12 tháng 9 năm 1982; tại huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 02/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Phạm Đức T (đã chết) và con bà Trần Thị K; có chồng là Chu Anh M, (đã ly hôn) và có 02 con (con nhỏ tuổi nhất sinh năm 2017); tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/12/2024 đến ngày 19/12/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại ở địa phương, (có mặt).
Dương Thị M1, sinh ngày 19 tháng 6 năm 1995; tại huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Dương Văn T1 và con bà Ngô Thị N; có chồng là Phạm Văn N1 và có 03 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại ở địa phương, (có mặt).
Phùng Minh V, sinh ngày 25 tháng 3 năm 1988; tại huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Phùng Văn T2 và con bà Nguyễn Thị C; có vợ là Trần Thị N2 và có 03 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/12/2024 đến ngày 22/12/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại ở địa phương, (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dương Thị M1 và Phạm Thị P đều trú tại thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc có quan hệ họ hàng với nhau. Cả hai người đều thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề kho khách nên đầu tháng 12/2024, M1 và P thống nhất với nhau nếu có khách hỏi mua số lô, số đề của P thì M1 góp tiền chung với P để đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho khách (mỗi bên góp 50% số tiền, nếu thắng thì chia đôi lợi nhuận, nếu thua thì mỗi người chịu một nửa, đến cuối ngày M1 nhận bảng đề từ P rồi tự giữ để tính thắng thua).
Vào khoảng đầu tháng 12/2024, P nói với M1 nếu có ai hỏi mua số lô, số đề của P thì P sẽ bán, sau đó tổng hợp thành bảng chụp lại và gửi cho M1 trước khi có kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết Miền Bắc hàng ngày, M1 đồng ý và thỏa thuận với Phương cách tính như sau: Số lô bán cho khách với giá 21.700đ/01 điểm (nhưng khi bán cho khách, P thu của khách 22.500đ/1 điểm để hưởng chênh lệch), nếu trúng thì khách sẽ thắng được số tiền là 80.000đ/01 điểm còn đối với số đề thì bán cho khách theo tỷ lệ 71% đối với số tiền khách mua, nếu trúng thì khách sẽ thắng được gấp 70 lần số tiền khách đã mua.
Ngày 14/12/2024, P bán lô đề cho khách rồi ghi các số lô, số đề này vào 02 tờ giấy (cáp đề). P sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50S màu đen, gắn sim 0824.408.741, đăng ký tài khoản zalo từ số điện thoại này có tên hiển thị zalo là “Lương”. Phương chụp ảnh 02 cáp đề rồi gửi qua zalo “L”, đến tài khoản zalo “H” được đăng ký bằng số điện thoại 0983.399.xxx của M1, sau khi nhận được tin nhắn đánh bạc của P thì M1 bấm nút hình trái tim trên tin nhắn để xác nhận đã xem và nhận bán lô đề. Cụ thể các số lô, số đề trong 2 cáp đề như sau:
Cáp đề thứ nhất: Các số lô: 93, 09, 90, 67, 77, 15, 32 mỗi số 10 điểm = 70 điểm, 39 = 20 điểm, 82, 92 mỗi số 40 điểm = 80 điểm, lô đầu 6 gồm 10 số: 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69 mỗi số 02 điểm = 20 điểm. Tổng 20 số lô = 190 điểm x 21.700đ/1 điểm lô = 4.123.000đ. Các số đề: 08 = 60.000đ, đầu 9 gồm 10 số: 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99 mỗi số x 5.000đ = 50.000đ, đề đầu 5 gồm 10 số: 50,51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59 mỗi số x 5.000đ = 50.000đ, đề đầu 8 gồm 10 số: 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89 mỗi số x 5.000đ = 50.000đ; 80, 89, 90, 22, 77, 27, 72, 03, 30, 08, 80, 35, 58, 85, 04, 40, 09, 90, 45, 54, 59, 95, 34, 43, 39, 93, 48, 84, 89, 98, 47, 74, 57, 75 mỗi số x 10.000đ = 340.000đ; 78, 87, 20 mỗi số x 20.000đ = 60.000đ; 13 x 200.000đ; 67 x 100.000đ, 15 x 50.000đ; 66, 69 mỗi số 250.000đ = 500.000đ. Số đề ba càng: 017 x 50.000đ = 50.000đ.
Trong cáp đề thứ nhất, P có nhận bán lô đề cho Phùng Minh V, sinh năm 1988 trú tại thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc các số lô, số đề sau: Số lô (67, 77, 15, 32) x 10 điểm x 22.500đ = 900.000đ; các số đề (66, 69) x 250.000đ = 500.000₫ (Phương triết khấu cho Viện và thực thu là 355.000 đ), tổng số tiền Phương bán lô đề cho Viện là 1.400.000đ.
Ngoài ra, P còn trực tiếp đánh bạc với M1 bằng các số lô, số đề sau: Số lô: 93, 09, 90 mỗi số x 10 điểm = 30 điểm; 39 = 20 điểm; 82, 92 mỗi số x 40 điểm = 80 điểm; các số lô đầu 6 gồm 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69 mỗi số x 2 điểm = 20 điểm. Tổng 16 số lô = 150 điểm x với giá 21.700đ = 3.255.000đ. Các số đề gồm: 08 = 60.000đ, đầu 9 gồm 10 số: 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99 mỗi số x 5.000đ = 50.000đ, đề đầu 5 gồm 10 số: 50,51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59 mỗi số x 5.000đ = 50.000đ, đề đầu 8 gồm 10 số: 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89 mỗi số x 5.000đ = 50.000đ; 80, 89, 90, 22, 77, 27, 72, 03, 30, 08, 80, 35, 58, 85, 04, 40, 09, 90, 45, 54, 59, 95, 34, 43, 39, 93, 48, 84, 89, 98, 47, 74, 57, 75 mỗi số x 10.000đ = 340.000đ; 78, 87, 20 mỗi số x 20.000đ = 60.000đ; 13 x 200.000đ; 67 x 100.000đ, 15 x 50.000đ và số đề ba càng 017 x 50.000đ. Tổng 72 số đề = 1.010.000đ (tính theo giá triết khấu 71% P bán cho khách là 1.010.000₫ x 71% = 717.100đ). Tổng số tiền Phương mua lô đề của M1 là 4.265.000đ.
Cáp đề thứ hai (P bán các số lô, số đề cho bà Trần Thị K, sinh năm 1941 ở thôn Đ, xã Y, huyện V là mẹ đẻ của P): Các số đề 08, 09, 18, 28, 29, 30, 04, 05, 50, 23, 24, 25, 14, 15, 95, 83, 84, 55, 93, 69, 70, 36, 54, 77, 73, 91, 85, 87, 88, 98, 94, 36, 63, 99, 79, 99, 29 mỗi số x 10.000đ = 370.000đ; 19, 59, 79, 89, 99, 39, 49, 03, 19, 29, 09, 39, 45, 75, 79, 84, 41 mỗi số x 15.000đ = 255.000đ; 20, 22, 23, 27, 28, 80, 82, 83, 84, 87, 88, 89, 70, 73, 75, 77, 78, 90, 94, 95, 97, 98, 60, 69, 00, 04, 08, 09, 10, 18, 19 mỗi số x 5.000đ = 155.000đ; đề ba càng gồm: 399 x 15.000đ, 389 x 10.000đ. Tổng số tiền Phương bán lô đề cho bà K là 805.000 đ (Phương triết khấu cho bà K và thực thu là 571.000₫).
Tổng số tiền Phương, M1 đánh bạc với nhau và số tiền Phương đánh bạc với khách bằng hình thức mua bán số lô, số đề rồi chuyển bảng cho M1 trong ngày 14/12/2024 là 6.438.000đ. Đối với bảng đề này, M1 không chuyển tiếp cho ai mà tự giữ lại để tính thắng thua với P. Hai bên chưa kịp đối chiếu kết quả thắng thua thì P bị lực lượng Công an tỉnh phát hiện, bắt giữ về hành vi đánh bạc.
Ngoài lần đánh bạc trên, M1 và P còn trực tiếp đánh bạc với một số đối tượng khác như sau:
Phạm Thị P đánh bạc với Phùng Minh V: Hồi 17h55' ngày 29/11/2024, Phùng Minh V, sinh năm 1988 trú tại thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc sử dụng chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A31 màu đen bên trong lắp sim 0983.483.364 nhắn tin SMS đến số điện thoại 0824.408.xxx của P với nội dung: “No 22 21 27 mới con 25d đề 00 33 mới con 200k”, nghĩa là Viện hỏi mua của P các số lô 22, 21, 27 mỗi con 25 điểm x 22.500đ/1 điểm = 1.687.500đ; mua các số đề 00,33 mỗi số 200.000đ = 400.000đ. Với lần đánh này, kết quả Viện trúng số lô 22, 27 mỗi số 25 điểm, tổng là 50 điểm x 80.000 = 4.000.000đ. Tổng số tiền Phương và Viện đánh bạc ngày 29/11/2024 là 6.087.500đ, hai bên đã thanh toán cho nhau bằng tiền mặt. Số tiền nhận lô, đề này của Viện thì P không chuyển bảng cho M1 mà trực tiếp ăn thua với Viện.
Vào khoảng đầu tháng 8/2024, M1 đang bán hàng tạp hóa tại nhà thì có một người phụ nữ (không biết tên, địa chỉ) vào quán nhà M1 ban đầu hỏi mua hàng tạp hóa rồi sau đó rủ M1 làm thư ký ghi lô đề để hưởng tiền hoa hồng, M1 đồng ý. Người này thỏa thuận sẽ đến làm việc trực tiếp với M1, không cần để lại thông tin cá nhân hay số điện thoại liên lạc, sau đó người này thống nhất: M1 bán số lô, số đề cho khách rồi chuyển bảng cho họ, đến khoảng 18h00' cùng ngày người này sẽ đến lấy bảng lô, đề để đối chiếu kết quả, tính thắng thua với khách và đưa tiền cho M1 để thanh toán cho khách và trả tiền hoa hồng cho M1. M1 và người phụ nữ thỏa thuận bán số lô tính giá là 22.500đ/1 điểm, số đề tính 100% tổng số tiền khách mua, khi M1 chuyển bảng cho người phụ nữ thì tính giá số lô là 21.700đ/1 điểm (M1 được hưởng hoa hồng 800đ/1 điểm lô), số đề tính 70% tổng số tiền khách mua (M1 được hưởng hoa hồng 30%). Sau đó M1 đã bán số lô, số đề cho một số đối tượng rồi chuyển bảng cho người phụ nữ này, cụ thể như sau:
+ Ngày 26/9/2024, Trần Đức T3, sinh năm 1982 trú tại thôn L, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc đến cửa hàng tạp hóa của M1 để hỏi mua 01 số đề “27” với giá 60.000đ, M1 đồng ý, T3 đã thanh toán cho M1 60.000đ tiền mặt. Căn cứ kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng cùng ngày, T3 trúng số đề 27 với số tiền 4.200.000đ. T3 sử dụng số điện thoại 0916.644.xxx nhắn tin SMS đến số điện thoại 0985.620.xxx của M1 với nội dung: “Minh ơi anh được con 27 60 em gửi vào stk 0916644468 Nh M2 trần đức thiện nhé”, M1 sử dụng số tài khoản 3550139369999 của M1 mở tại ngân hàng M3 để chuyển khoản 4.200.000đ cho T3. Tổng số tiền T3 đánh bạc với M1 bằng hình thức mua bán số đề ngày 26/9/2024 là 4.260.000đ.
+ Ngày 04/10/2024, người phụ nữ có tên là T4 (M1 khai người này ở thôn N, xã Y, V, Vĩnh Phúc) sử dụng số điện thoại 0365.199.xxx nhắn tin SMS đến số điện thoại 0985.620.xxx của M1 để mua số lô, số đề với nội dung: “Nô 78 10₫ 87 10 điêm nhe”, tức là mua của M1 02 số lô 78, 87 mỗi số 10 điểm = 20 điểm x 22.500đ/1 điểm = 450.000đ. Hồi 17h41' cùng ngày M1 nhắn tin lại “Ok” tức là đồng ý. Căn cứ kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng cùng ngày, T4 không trúng số lô nào, hai bên đã thanh toán cho nhau bằng tiền mặt.
+ Ngày 25/11/2024, T4 tiếp tục sử dụng số điện thoại 0918.853.xxx nhắn tin SMS đến số điện thoại 0985.620.xxx của M1 để mua các số lô, số đề với nội dung: “Em ghi cho chị lô 19 x 10₫ 84 x 10đ đề 191 x 20k 656 x 20k chị chuyển 500 nhé” tức là người có tên là T4 mua của M1 02 số lô 19, 84 mỗi số 10 điểm, tổng 20 điểm x 22.500đ = 450.000đ; mua 04 số đề gồm 19, 91, 56, 65 mỗi số 20.000₫ = 80.000đ. Tổng số tiền T4 mua số lô, số đề của M1 là 530.000đ. Hồi 17h59' cùng ngày M1 nhắn tin lại “Ok” tức là đồng ý bán số lô, số đề trên cho T4. Căn cứ kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng cùng ngày, T4 không trúng số lô, số đề nào và đã thanh toán số tiền 530.000đ cho M1 bằng tiền mặt.
+ Ngày 11/11/2024, Lê Văn T5, sinh năm 1986 trú tại thôn L, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc sử dụng số điện thoại 0973.576.xxx gọi điện vào số điện thoại 0985.620.xxx của M1 với nội dung T5 chuyển khoản trả 600.000đ tiền mua hàng gồm: 01 bình gas giá 290.000₫, 06 lọ keo silicon A500 mỗi lọ 50.000đ, tổng là 300.000đ và 01 bao thuốc lá Thăng Long giá 10.000đ (việc mua bán hàng hóa có hóa đơn bán lẻ kèm theo), đồng thời Thu mua 02 số đề 32, 33 mỗi số 50.000đ và chuyển khoản cùng số tiền mua hàng. Hồi 17h37' cùng ngày, M1 sử dụng số điện thoại 0985.620.xxx nhắn tin SMS vào số điện thoại 0973.576.xxx của T5 với nội dung: "3550139369999 ngan hang mb dương thi minh” có nghĩa là M1 bảo T5 chuyển tiền vào tài khoản 3550139369999 mở tại ngân hàng M3 của M1. Sau đó, T5 sử dụng tài khoản số 2806205176360 mở tại ngân hàng A đứng tên Lê Văn T5 chuyển khoản vào tài khoản của M1 số tiền 700.000đ trong đó có 100.000đ tiền mua 02 số đề “32, 33” và 600.000đ tiền mua hàng tạp hóa. Căn cứ kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng cùng ngày, T5 không trúng số đề nào và đã thanh toán số tiền 100.000đ cho M1.
Kết quả kiểm tra điện thoại của các đối tượng xác định:
- Điện thoại di động của P, nhãn hiệu SamSung Galaxy A50s, màu đen, lắp thẻ sim 0824.408.741, tại thư mục tin nhắn SMS có các tin nhắn đánh bạc với Viện các ngày 29/11/2024, ngày 14/12/2024; tại thư mục tin nhắn Zalo có các tin nhắn đánh bạc với M1 ngày 14/12/2024. Ngoài ra kiểm tra các thư mục, hình ảnh lưu trong điện thoại không phát hiện nội dung liên quan đến hành vi đánh bạc.
- Điện thoại di động của M1, nhãn hiệu SamSung Galaxy J7 Prime, màu hồng, lắp thẻ sim 0985.620.215, tại thư mục tin nhắn SMS có các tin nhắn đánh bạc với người có tên là T4 vào các ngày 25/11/2024 và 04/10/2024; tin nhắn đánh bạc với anh T5 vào ngày 11/11/2024, tin nhắn đánh bạc với anh T3 vào ngày 26/9/2024, không có tin nhắn đánh bạc với P do M1 đã xóa hết. Ngoài ra kiểm tra các thư mục, hình ảnh lưu trong điện thoại không phát hiện nội dung liên quan đến việc đánh bạc.
- Điện thoại di động của M1, nhãn hiệu Iphone 15, màu xanh, bên trong không gắn thẻ sim: Không phát hiện thông tin gì liên quan đến đến việc đánh bạc.
- Điện thoại di động của Viện, nhãn hiệu Oppo A31, màu đen, lắp thẻ sim 0983.483.364, kiểm tra các tin nhắn SMS, Zalo, các thư mục, hình ảnh lưu trong điện thoại không phát hiện thấy nội dung liên quan đến việc đánh bạc (do V1 đã xóa bỏ luôn).
- Điện thoại di động của Lê Văn T5, nhãn hiệu Iphone XS, màu đen, lắp thẻ sim 0973.576.855, kiểm tra các tin nhắn SMS, Zalo, các thư mục, hình ảnh lưu trong điện thoại không phát hiện thấy nội dung liên quan đến việc đánh bạc. Tuy nhiên tại phần ứng dụng A1, thấy ngày 11/11/2024 T5 chuyển khoản đến cho D, trong đó có 600.000đ tiền mua hàng tạp hóa và 100.000đ tiền mua số đề.
- Điện thoại di động của Trần Đức T3, nhãn hiệu Redmi 10A, màu đen, lắp 02 sim gồm: 0916.644.468 và 0866.422.778, kiểm tra các tin nhắn SMS, Zalo, các thư mục, hình ảnh lưu trong điện thoại không phát hiện thấy nội dung liên quan đến việc đánh bạc (do T3 nhắn tin xong đã xóa bỏ).
- Điện thoại di động của Phạm Văn N1 (chồng bị can M1) nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu xám bên trong lắp 2 thẻ sim (0984.280.333 và 0328.108.888), không phát hiện thấy thông tin gì liên quan đến đến việc đánh bạc.
Kết quả xác minh tại Công ty X:
- Kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng hồi 18h15' ngày 26/9/2024 gồm 08 giải, 27 lượt quay, giải đặc biệt trong đó có số 03027 (Ngày 26/9/2024, Trần Đức T3 trúng số đề 27).
- Kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng hồi 18h15' ngày 29/11/2024 gồm 08 giải, 27 lượt quay, giải 3 trong đó có số 47027, giải 6 trong đó có số 422 (Ngày 29/11/2024, Phùng Minh viện trúng số lô 22, 27).
- Kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng hồi 18h15' ngày 04/10/2024 gồm 08 giải, 27 lượt quay, xác định không giải nào có số 78, 87 (Ngày 04/10/2024, người tên T4 mua của M1 02 số lô 78, 87).
- Kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng hồi 18h15' ngày 11/11/2024 gồm 08 giải, 27 lượt quay, giải đặc biệt có số 17108, xác định các giải không có hai số cuối là 32, 33 (Ngày 11/11/2024, Lê Văn Thu mua của M1 02 số đề 32, 33).
- Kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng hồi 18h15' ngày 25/11/2024 gồm 08 giải, 27 lượt quay, xác định các giải không có hai số cuối là 84, 19, 91, 56, 65 (Ngày 25/11/2024, người tên T4 mua của M1 04 số đề 19, 91, 56, 65 và 02 số lô 19, 84).
Kết quả thu giữ điện tín:
* Ngày 24/12/2024, Cơ quan Cơ quan điều tra ra Lệnh thu giữ điện tín số 1193/TLG-CSHS đối với số điện thoại 0983.483.xxx của Viện, số điện thoại 0985.620.xxx và 0983.399.445; của M1 số điện thoại 0973.576.xxx, của Lê Văn T5 và số điện thoại 0365.199.xxx của người có tên là T4. Kết quả xác định: Chủ thuê bao số 0983.483.364 đứng tên Phùng Minh V, chủ thuê bao số 0985.620.215 đứng tên Lê Thị L1, chủ thuê bao số 0983.399.445 đứng tên Dương Thị M1, chủ thuê bao số 0973.576.855 đứng tên Lê Văn T5, chủ thuê bao số 0365.199.474 đứng tên Lê Quốc T6.
- Kết quả xác minh, xác định: Bà Lê Thị L1, sinh năm 1971, trú tại thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, là mẹ chồng của Dương Thị M1. Số điện thoại 0985.620.xxx đăng ký chính chủ đứng tên bà L1, năm 2022, bà L1 không có nhu cầu sử dụng nên đã cho M1 quản lý và sử dụng số điện thoại này. Anh Lê Quốc T6, sinh năm 2001, trú tại thôn L, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Bản thân anh T6 không quen biết chị T4, không sử dụng số thuê bao 0365.199.474. Anh T6 không biết lý do vì sao chủ thuê bao số điện thoại 0365.199.xxx đứng tên Lê Quốc T6.
* Ngày 24/12/2024, Cơ quan Cơ quan điều tra ra Lệnh thu giữ điện tín số 1194/TLG-CSHS đối với số điện thoại 0824.408.xxx của Phạm Thị P, số điện thoại 0918.853.xxx của người có tên là T4, số điện thoại 0916.644.xxx của Trần Đức T3. Kết quả xác định: Chủ thuê bao số 0824.408.741 đứng tên Trần Thị Đ, chủ thuê bao số 0918.853.475 đứng tên Phùng Văn T7, chủ thuê bao số 0916.644.468 đứng tên Trần Đức T3.
- Kết quả xác minh, xác định: Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1975, trú tại thôn N, xã A, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Bản thân bà Đ không quen biết chị Phạm Thị P, không sử dụng số thuê bao 0824.408.741. Bà Đ không biết lý do vì sao chủ thuê bao số điện thoại 0824.408.xxx đứng tên bà Đ. Anh Phùng Văn T7, sinh năm 1973, trú tại thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Bản thân anh T7 không sử dụng số thuê bao 0918.853.475, anh T7 không quen biết chị Phạm Thị P và không quen biết ai có tên là T4 sử dụng số điện thoại 0918.853.xxx. Bản thân anh T7 không biết lý do vì sao chủ thuê bao số điện thoại 0918.853.xxx đứng tên anh T7.
Kết quả trưng cầu giám định điện thoại:
* Ngày 05/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 37 trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với điện thoại của Phạm Thị P. Ngày 18/02/2025, Phòng K1 Công an tỉnh V ra bản Kết luận giám định số 486/KL-KTHS. Kết quả xác định: Có 04 tin nhắn SMS với số thuê bao “0983483364” trong thời gian từ ngày 23/11/2024 đến ngày 14/12/2024; 04 ảnh chụp màn hình điện thoại là tin nhắn ứng dụng Zalo giữa tài khoản Zalo có tên “L” đăng ký bằng số điện thoại “0824.408.xxx” với tài khoản Zalo có tên “H” (không rõ số điện thoại đăng ký Zalo) từ ngày 08/12/2024 đến ngày 14/12/2024. Các tin nhắn này đều thể hiện việc đánh bạc giữa P với V, M1.
* Ngày 05/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 38 trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với điện thoại của Lê Văn T5. Ngày 18/02/2025 Phòng K1 Công an tỉnh V ra bản Kết luận giám định số 487/KL-KTHS, kết quả xác định: Không tìm thấy tin nhắn SMS với thuê bao số “0985620215” được lưu trong danh bạ tên “Ly Đức” (là số điện thoại của Dương Thị M1) từ ngày 05/11/2024 đến ngày 11/11/2024 trong mẫu vật gửi giám định.
* Ngày 05/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 39 trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với điện thoại của Phùng Minh V. Ngày 18/02/2025, Phòng K1 Công an tỉnh V ra bản Kết luận giám định số 488/KL-KTHS, kết quả xác định: Không tìm thấy tin nhắn SMS với thuê bao số “0824408741” được lưu trong danh bạ tên “Ti Vi Lâm T8” (là số điện thoại của Phạm Thị P) từ ngày 23/11/2024 đến ngày 14/12/2024 trong mẫu vật gửi giám định.
* Ngày 05/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 40 trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với điện thoại của Trần Đức T3. Ngày 18/02/2025, Phòng K1 Công an tỉnh V ra bản Kết luận giám định số 489/KL-KTHS, kết quả xác định: Không tìm thấy tin nhắn SMS với thuê bao số “0986620215” được lưu trong danh bạ tên “Ly Duc” (là số điện thoại của Dương Thị M1) từ ngày 20/9/2024 đến ngày 26/9/2024 trong mẫu vật gửi giám định.
* Ngày 05/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 41 trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với điện thoại của Dương Thị M1. Ngày 18/02/2025, Phòng K1 Công an tỉnh V ra bản Kết luận giám định số 490/KL-KTHS, kết quả xác định: Không tìm thấy tin nhắn ứng dụng Zalo giữa tài khoản có tên “H” đăng ký bằng số điện thoại “0983.399.xxx” (là số điện thoại của Dương Thị M1) với tài khoản Zalo có tên “L” (không rõ số điện thoại đăng ký Zalo) từ ngày 08/12/2024 đến ngày 14/12/2024; Có 03 tin nhắn SMS với số điện thoại “0918.853.xxx” từ ngày 19/11/2024 đến ngày 25/11/2024; Có 02 tin nhắn SMS với số điện thoại “0365.199.xxx” từ ngày 28/9/2024 đến ngày 04/10/2024; Có 02 tin nhắn SMS với số điện thoại “0916.644.xxx” từ ngày 20/9/2024 đến ngày 26/9/2024; Có 02 tin nhắn SMS với số điện thoại “0973.576.xxx” từ ngày 05/11/2024 đến ngày 11/11/2024. Các tin nhắn này đều thể hiện việc đánh bạc giữa M1 với T3, T5, T4 như nội dung đã nêu ở các phần trên.
Tại Cáo trạng số: 66/CT-VKSVP-P2 ngày 05 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố các bị cáo Phạm Thị P, Dương Thị M1, Phùng Minh V về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Phạm Thị P, Dương Thị M1, Phùng Minh V phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Thị P từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Dương Thị M1 và bị cáo Phùng Minh V đều từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo P, M1 và V hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.
Ngoài ra còn đề nghị xử lý về vật chứng và án phí theo quy định.
Các bị cáo nói lời sau cùng, do nhận thức pháp luật hạn chế đã vi phạm pháp luật nên rất ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo M1, P, V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, các bị cáo khai nhận:
Các bị cáo Phạm Thị P, Dương Thị M1 và Phùng Minh V đều ở thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc có mối quan hệ quen biết nhau, trong đó P và M1 có quan hệ họ hàng. Do hám lợi từ việc bán số lô, số đề nên đầu tháng 12/2024, P và M1 bàn bạc với nhau nếu có ai mua số lô, số đề thì P trực tiếp ghi cho khách, đến cuối ngày (trước khi có kết quả mở thưởng Xổ số kiến thiết Miền B), P sẽ tổng hợp các số lô, số đề đã bán thành bảng đề rồi chuyển cho M1. M1 và P mỗi người sẽ góp 50% số tiền để trả thưởng cho khách nếu khách trúng thưởng, còn nếu khách không trúng thì toàn bộ số tiền thu được từ khách, M1 và P sẽ chia đôi, M1 không chuyển bảng đề cho ai khác.
Ngày 14/12/2024, P trực tiếp đánh bạc với M1, đồng thời P bán lô đề trái phép cho Phùng Minh V, Trần Thị K rồi tổng hợp các số này vào 02 tờ giấy (cáp đề), với tổng số tiền là 6.438.000đ để chuyển toàn bộ bảng đề này cho M1. Trong đó P bán lô đề cho bà K là 805.000đ, cho V là 1.400.000đ, P đánh bạc với M1 thông qua mua bán lô đề của M1 số tiền là 4.265.000đ.
Ngoài ra, ngày 29/11/2024 P đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho Phùng Minh V với tổng số tiền thắng thua là 6.087.500đ. Số tiền này P trực tiếp ăn thua với V mà không chuyển bảng cho M1.
[3]. Xét lời nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Phạm Thị P, Dương Thị M1, Phùng Minh V đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Trong đó bị cáo P là người có vai trò chính, phạm tội nhiều lần, bị cáo M1 và V đóng vai trò tích cực thực hiện tội phạm
[4]. Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an trong xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Từ tội đánh bạc có thể nảy sinh ra nhiều tội phạm khác như trộm cắp tài sản, cưỡng đoạt tài sản, gây rối trật tự công cộng. Vì vậy, cần phải xử lý các bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5]. Xét nhân thân, các tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo, thấy rằng:
[5.1]. Bị cáo M1, V phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo P, M1, Viện đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều giao nộp lại đầy đủ số tiền đánh bạc, bị cáo P có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đã ly hôn chồng, một mình nuôi con nhỏ và mẹ già, bị cáo là lao động chính trong gia đình đồng thời bị cáo có bố đẻ là Phạm Đức T được tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương; bị cáo V sau khi sự việc bị phát hiện đã ra đầu thú, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, con thứ hai của bị cáo bị bệnh, thuộc diện khuyết tật đặc biệt nặng. Do đó, các bị cáo được hưởng tỉnh tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo P phải chịu 01 tỉnh tiết tăng nặng “phạm tội từ 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[5.2]. Bị cáo P tuy phải chịu tình tiết tăng nặng là phạm tội hai lần trở lên, tuy nhiên các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng, số tiền đánh bạc ít, không đáng kể. Các bị cáo đều có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ và có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, không cần thiết bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cũng như tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội được tự cải tạo, sửa chữa sai lầm để trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp, có căn cứ, đúng quy định nên được chấp nhận.
[6]. Đối với những người liên quan:
[6.1]. Đối với Lê Văn T5, Trần Đức T3, Trần Thị K đều không có tiền án, tiền sự, số tiền những người này đánh bạc đều dưới 5.000.000đ. Vì vậy hành vi của T5, T3, K không cấu thành tội “Đánh bạc”, theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Ngày 18/3/2024, Phòng C1 về TTXH Công an tỉnh V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T5, T3 và K về hành vi đánh bạc theo quy định tại Khoản 1, Điều 28 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, mức phạt 350.000đ/người và tịch thu điện thoại sử dụng để nhắn tin đánh bạc của T5 và T3; T5, T3, K đã nộp phạt xong.
[6.2]. Đối với người có tên là T4 ở thôn N, xã Y, V, Vĩnh Phúc, là người tham gia đánh bạc với M1. Tuy nhiên, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể của T4 nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ để xử lý. CQĐT tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xem xét, xử lý sau. Đối với người phụ nữ mà M1 chuyển bảng lô, bảng đề, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ để xử lý.
[7]. Đối với việc xử phạt vi phạm hành chính đối với Dương Thị M1, Phùng Minh V:
Ngày 26/9/2024, M1 thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho Trần Đức T3 với tổng số tiền là 4.260.000đ. Ngày 04/10/2024 và ngày 25/11/2024, M1 thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho T4 với tổng số tiền là 980.000đ. Ngày 11/11/2024, M1 thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho Lê Văn T5 với tổng số tiền là 100.000đ. Ngày 10/4/2024 Phòng C1 về TTXH Công an tỉnh V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với M1 về hành vi đánh bạc theo quy định tại Khoản 3, Điều 28 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, mức phạt 5.000.000đ, M1 đã nộp phạt xong.
Ngày 14/12/2024, Viện thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề với Phạm Thị P với số tiền 1.400.000đ. Ngày 10/4/2024, Phòng C1 về TTXH Công an tỉnh V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Viện về hành vi đánh bạc theo quy định tại khoản 1, Điều 28 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, mức phạt 350.000đ, V đã nộp phạt xong.
[8]. Về xử lý vật chứng:
- Đối với 02 chiếc điện thoại di động của Dương Thị M1 gồm: 01 điện thoại nhãn hiệu SamSung Galaxy J7 Prime, màu hồng lắp sim 0985.620.215 và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 màu xanh không lắp sim. Kết quả điều tra xác định: Chiếc điện thoại nhãn hiệu S là công cụ M1 thực hiện hành vi phạm tội đánh bạc cần tịch thu, bán phát mại, sung vào ngân sách Nhà nước; chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 màu xanh không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho M1 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A50s, màu đen có lắp sim 0824.408.741 của Phạm Thị P, là công cụ P thực hiện hành vi đánh bạc cần tịch thu, bán phát mại, sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A31, màu đen bên trong lắp sim 0983.483.364 của Viện là công cụ thực hiện hành vi đánh bạc cần tịch thu, bán phát mại, sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu đen bên trong lắp sim 0973576855 của Lê Văn T5 sử dụng để đánh bạc, là tang vật phương tiện vi phạm hành chính đã được Phòng CSĐTTP về TTXH Công an tỉnh V quyết định tịch thu trong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 17/QĐ-XPHC ngày 18/3/2025, do vậy cần chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc để xử lý theo thẩm quyền.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10A, màu đen bên trong lắp 02 sim (0916.644.468 và 0866.422.772) của Trần Đức T3 sử dụng để đánh bạc, là tang vật phương tiện vi phạm hành chính đã được Phòng CSĐTTP về TTXH Công an tỉnh V quyết định tịch thu trong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 18/QĐ-XPHC ngày 18/3/2025, do vậy cần chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc để xử lý theo thẩm quyền.
- Các đồ vật, tài liệu, gồm: 01 tờ lịch có ghi các số đề, 01 tờ giấy kẻ ngang có ghi các số lô, số đề thu giữ của P cần lưu trong hồ sơ vụ án.
- Đối với 01 chiếc bút bi màu đen sử dụng để ghi các số lô, số đề do Phạm Thị P giao nộp, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 thẻ sim số điện thoại 0983.399.xxx của Dương Thị M1 sử dụng thực hiện hành vi đánh bạc, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 1.140.000đ bị cáo M1 giao nộp tại cơ quan điều tra, đây là tiền M1 bán số lô, số đề cho người có tên là T4, T5, T3 cần tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền 4.200.000đ mà T3 giao nộp, là tiền đánh bạc giữa T3 và M1, cần tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền 4.000.000đ do Phùng Minh V giao nộp, là tiền đánh bạc giữa T3 và P, cần tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền Phương đánh bạc với Viện ngày 29/11/2024 là 2.087.500đ, cần truy thu của P để sung Ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền Phương đánh bạc với M1, K, Viện ngày 14/12/2024 là 5.798.000đ, cần truy thu của P để sung Ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu xám bên trong lắp 2 thẻ sim (0984.280.333 và 0328.108.888) của Phạm Văn N1 (chồng bị can M1), xác định chiếc điện thoại này không liên quan đến vụ án. Ngày 18/3/2025, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý đồ vật tài liệu trả lại chiếc điện thoại trên cho anh N1 là đúng quy định.
[9]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo P, M1 và Viện hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.
[10]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Phạm Thị P, Dương Thị M1, Phùng Minh V phạm tội “Đánh bạc”.
Về hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Thị P 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo M1 và bị cáo V:
Xử phạt bị cáo Dương Thị M1 10 (Mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm 08 (T7) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Phùng Minh V 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Phạm Thị P, Dương Thị M1, Phùng Minh V cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, bán phát mại, sung vào ngân sách Nhà nước đối với các điện thoại sau: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A50s, màu đen có lắp sim 0824.408.741 thu của Phạm Thị P; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy J7 Prime màu hồng bên trong lắp sim 0985.620.215 thu của M1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A31, màu đen bên trong lắp sim 0983.483.364 thu của Viện là công cụ thực hiện hành vi phạm tội.
- Trả lại cho Dương Thị M1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 màu xanh không lắp sim, không liên quan đến việc phạm tội, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc để xử lý theo thẩm quyền, đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu đen bên trong lắp sim 0973576855 của Lê Văn T5 sử dụng để đánh bạc, là tang vật phương tiện vi phạm hành chính đã được Phòng CSĐTTP về TTXH Công an tỉnh V quyết định tịch thu trong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 17/QĐ-XPHC ngày 18/3/2025.
- Chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc để xử lý theo thẩm quyền, đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10A, màu đen bên trong lắp 02 sim (0916.644.468 và 0866.422.772) của Trần Đức T3 sử dụng để đánh bạc, là tang vật phương tiện vi phạm hành chính đã được Phòng CSĐTTP về TTXH Công an tỉnh V quyết định tịch thu trong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 18/QĐ-XPHC ngày 18/3/2025.
- Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 chiếc bút bi màu đen, sử dụng để ghi các số lô, số đề do Phạm Thị P giao nộp; 01 thẻ sim số điện thoại 0983.399.xxx của Dương Thị M1 sử dụng thực hiện hành vi đánh bạc.
- Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước đối với số tiền 9.340.000đ là tiền mà Dương Thị M1, Trần Đức T3 và Phùng Minh V giao nộp liên quan đến bán số lô, số đề.
- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước đối với số tiền 7.885.500đ liên quan hành vi phạm tội, do Phạm Thị P đã nộp ngày 09/6/2025 tại Cục Thi hành án dân sự theo biên lai thu số 0004223.
Vật chứng và tiền nêu trên có đặc điểm như Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc lập ngày 16 tháng 6 năm 2025.
Án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Dương Thị M1, Phạm Thị P, Phùng Minh V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo:
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Các Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
Nguyễn Quang Bằng Đỗ Thị Kim Thúy | Nguyễn Xuân Trọng |
Nơi nhận:
- - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
- - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
- - Cơ quan CSĐT- CA tỉnh Vĩnh Phúc;
- - Cơ quan THAHS CA tỉnh Vĩnh Phúc;
- - Phòng Hồ sơ – CA tỉnh Vĩnh Phúc;
- - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
- - Cục THADS tỉnh Vĩnh Phúc;
- - Các bị cáo;
- - UBND xã Yên Bình, huyện Vĩnh Tường;
- - Thi hành án hình sự;
- - Lưu hồ sơ, Toà hình sự, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Trọng |
Bản án số 70/2025/HS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự (tội đánh bạc)
- Số bản án: 70/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tuyên các bị cáo phạm tội đánh bạc
