Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2025/HS-ST

Ngày: 02- 04 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Hòa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ron; Ông Nguyễn Đình Thọ

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trâm - Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Văn Lê Hoài Khiêm - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 04 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXST-HS ngày 21/02/2025 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Thái N, tên gọi khác: Không, sinh năm 1989 tại thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Số A N, phường N, TP ., Bình Định; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; con ông Thái S, sinh năm 1964 và bà Bùi Thị H, sinh năm: 1965; Vợ: Trang Thị Thanh T, sinh năm 1996, đã ly hôn; Con: Thái Trang Gia M, sinh năm 2019; Thái Ngọc Minh C, sinh năm 2023; Tiền án; Tiền sự: Không; Bị can bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/9/2024 cho đến nay (có mặt).

- Bị hại: Lê Nhất T1, sinh năm: 2002; Địa chỉ: Thôn T, N, A, Bình Định (vắng mặt).

Người làm chứng: Võ Văn Q, sinh năm: 2004; Nguyễn Thị L, sinh năm: 1960 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 17/7/2024, bị cáo Thái N từ phòng trọ tầng 2, nhà số A N, thành phố Q, tỉnh Bình Định đi ra trước nhà để hóng gió. Lúc này, N thấy tại lối đi chung giữa nhà trọ số 10 và số 12 N có để nhiều xe mô tô, không có ai trông coi nên nảy sinh ý định lấy trộm xe. Nha quay về trọ của mình mặc áo mưa tiện lợi màu xanh, trùm mũ áo mưa để tránh người khác phát hiện rồi quay lại khu vực để xe bên dưới nhà trọ. Nha quan sát và lại gần kiểm tra chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ đen, biển kiểm soát 77F1 - 525.04 của anh Lê Nhất T1 phát hiện xe không khoá cổ, N dùng tay trái cầm tay lái cổ xe bên trái, tay phải cầm đuôi ghi - đông phía sau xe để kéo xe lùi về sau đồng thời quay đầu xe hướng ra đường N rồi ngồi lên xe dùng 02 chân đẩy xe đi về phía trước nhà trọ số 10 N. Lúc này Lê Nhất T1 cùng Võ Văn Q phát hiện mất xe mô tô nên chạy đuổi theo ra đường N. Thấy vậy, N ngồi núp tại sân nhà số A N rồi sau đó đi bộ về phòng trọ của mình để ngủ. Sáng cùng ngày anh Lê Nhất T1 đến công an phường N sự việc.

Ngày 31/7/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân T2 kết luận: 01 xe mô tô loại Yamaha Exciter, màu sơn: đỏ - đen, biển kiểm soát 77F1- 525.04, số máy: G3D4E819324, số khung: 1010JY053898, đã qua sử dụng, không gương chiếu hậu có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 20.300.000 đồng.

Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T3 đã tạm giữ và đã ra quyết định xử lý vật chứng ngày 25/9/2024 trả lại: 01 xe mô tô loại Yamaha Exciter, màu sơn: đỏ - đen, biển kiểm soát 77F1- 525.04 cho anh Lê Nhất T1.

Hiện tạm giữ 01 quần đùi màu đen, 01 áo thun đen, 01 đôi dép quai ngang

Về dân sự: Bị hại Lê Nhất T1 đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bản Cáo trạng số: 30/CT-VKS ngày 24 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Thái N về tội: "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội: Quá trình điều tra bị cáo Thái N thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Thái N từ 6 đến 9 tháng tù.

- Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T3, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Tại Cơ quan điều tra bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và có đủ cơ sở xác định: Khoảng 03 giờ ngày 17/7/2024, tại nhà trọ số A N, phường N, TP ., T đã lén lút chiếm đoạt 01 xe môtô hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 77F1-525.04 của anh Lê Nhất T1 trị giá 20.300.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo Thái N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.
  3. [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo an tâm cải tạo tốt.
  4. [5] Về hình phạt: Xét thấy, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục và răn đe.
  5. [6] Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản; không có yêu cầu về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.
  6. [7] Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an T3 đã xử lý theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không xét.

Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu huỷ đồ dùng cá nhân, không có giá trị kinh tế của bị cáo N do bị cáo không có yêu cầu nhận lại gồm: 01 quần đùi màu đen, 01 áo thun đen, 01 đôi dép quai ngang màu đen.

  1. Về án phí: Bị cáo N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
  2. Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt đối với bị cáo bị cáo Thái N là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015;

Căn cứ Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T4 về án phí, lệ phí tòa án

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thái N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Thái N 6 (sáu) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
  3. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ đồ dùng cá nhân, không có giá trị kinh tế của bị cáo N: 01 quần đùi màu đen, 01 áo thun đen, 01 đôi dép quai ngang màu đen
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND TP. Quy Nhơn;
  • - Chi cục THADS TP. Quy Nhơn;
  • - CQ CSĐT CA TP. Quy Nhơn;
  • - Đội ĐTTH CA TP. Quy Nhơn;
  • - Đương sự;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Trần Thị Minh Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2025/HS-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 70/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: THÁI N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger