Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 70/2025/HS-PT

Ngày 27 - 5 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Đoàn Thị Kiều Hương.

Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Quang Trung

Ông Nguyễn Đức Anh.

Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Mạnh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 57/2025/TLPT-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo Sầm Thị M bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 21/2025/HS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Bị cáo có kháng cáo: Sầm Thị M, sinh ngày 04 tháng 10 năm 1992 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm H, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sầm Văn M1 và bà Vi Thị T; có chồng là Hoàng Văn L và có 01 người con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04 tháng 10 năm 2024 đến ngày 13 tháng 10 năm 2024 được tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Sầm Thị M: Bà Võ Thị H - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý tỉnh N; có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại không kháng cáo: Anh Nguyễn Sỹ N, sinh năm 1989 và chị Đào Thị Y, sinh năm 2000; địa chỉ: Xóm D, xã T, nay là xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có quan hệ tình cảm với nhau nên thỉnh thoảng, anh Nguyễn Sỹ H1 dẫn Sầm Thị M về nhà mình tại xóm D, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An để chơi. Tại đây, M đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của vợ chồng anh Nguyễn Sỹ N, chị Đào Thị Y, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 11 giờ trưa ngày 25 tháng 01 năm 2024, thấy vợ chồng chị Y không có ở nhà, các thành viên trong gia đình anh H1 không cảnh giác nên M đã đột nhập vào phòng ngủ của vợ chồng chị Y để trộm cắp tài sản. Khi đi vào phòng, M mở tủ quần áo thì thấy 01 chiếc vali bên trong chứa 01 hộp hình tròn màu đỏ đựng nhiều nhẫn, kiềng, dây chuyền bằng vàng đựng trong các hộp nhựa màu đỏ. Biết đây là vàng cưới của vợ chồng chị Y, M đã lấy 01 hộp nhựa hình cầu màu đỏ (hộp đựng nhẫn tròn) bên trong có chứa nhiều chiếc nhẫn vàng tròn rồi bỏ vào trong túi áo của mình. Sau đó, M đóng cửa tủ, cửa phòng ngủ lại rồi đi ra ngoài chơi, sau đó, cùng anh H1 đi về phòng trọ ở thành phố V, tỉnh Nghệ An. Số vàng mà M chiếm đoạt được của vợ chồng chị Y sau đó Mậu kiểm điểm gồm 09 chiếc nhẫn vàng tròn loại vàng 9999 khối lượng 0,5 chỉ; 04 nhẫn vàng tròn loại 9999 khối lượng 02 chỉ. Đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, M mang số vàng vừa lấy trộm được, đi đến tiệm vàng “Kim Thành H2” ở khu vực chợ V thuộc đường C, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An để bán được số tiền 33.210.000 đồng. Toàn bộ số tiền này, M sử dụng hết vào mục đích tiêu xài cá nhân.

Vụ thứ hai: Vào sáng ngày 15 tháng 02 năm 2024, khi đến nhà anh Hoàng C, M tiếp tục nảy sinh ý định trộm cắp tài sản đối với số vàng còn lại của vợ chồng chị Y. Lợi dụng lúc vợ chồng chị Y không có ở nhà và thiếu sự cảnh giác của các thành viên trong gia đình nên khoảng 15 giờ cùng ngày, M đột nhập vào trong phòng ngủ của vợ chồng chị Y để lấy trộm cắp tài sản. Khi đi vào phòng ngủ, M mở tủ quần áo ra thì thấy hộp hình tròn màu đỏ (hộp đựng vàng lần trước) vẫn để trong chiếc vali trong tủ nên M mở nắp hộp và nhiều nhẫn, kiềng, dây kiềng bằng vàng bỏ vào trong túi áo của mình, còn lại 01 dây chuyền vàng loại vàng tây, có giá trị thấp, M để lại trong hộp. Sau khi lấy số vàng này, M đóng cửa tủ và cửa phòng ngủ lại, đi ra ngoài chơi rồi cùng với anh H1 đi về phòng trọ tại thành phố V, tỉnh Nghệ An. Tại đây, M lấy số vàng vừa trộm được ra kiểm đếm thì thấy có 02 chiếc nhẫn vàng loại vàng tây, 01 chiếc kiềng vàng 9999 đã bị gãy, 01 sợi dây chuyền vàng 9999. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, M mang toàn bộ số vàng vừa trộm được và 02 chiếc nhân vàng 9999 loại khối lượng 01 chỉ còn lại mà lần trước lấy trộm chưa bán đưa đi bán. Tại tiệm V1 thuộc phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An, Mậu bán 01 chiếc kiềng vàng 9999 khối lượng 02 chỉ với giá 11.000.000 đồng. Sau đó, M đến tiệm V2 thuộc

phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An bán số vàng còn lại gồm 02 chiếc nhẫn vàng, loại vàng tây; 01 sợi dây chuyền vàng 9999 khối lượng 05 chỉ và 02 chiếc nhẫn vàng 9999 loại khối lượng 01 chỉ với tổng số tiền 46.900.000 đồng. Toàn bộ số tiền này, Mậu tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 17 tháng 02 năm 2024, vợ chồng chị Y phát hiện bị mất vàng nên khoảng cuối tháng 02 năm 2024, khi M đang ở nhà anh H1 thì bà Nguyễn Thị T1 là mẹ của anh H1 hỏi M có lấy vàng không thì M đã thừa nhận và hứa hàng tháng có tiền lương sẽ mua trả lại số vàng đã lấy trộm. Đến ngày 17 tháng 4 năm 2024, M mua 02 chiếc nhẫn vàng 9999 loại khối lượng 0,5 chỉ với giá 7.000.000 đồng trả cho bà T1 ở khu vực chợ C1 thuộc xã T. Tại đây, bà T1 đã yêu cầu M ghi vào tờ giấy có nội dung: “Trả: 17/4/2024: 1 chỉ” và ký chữ ký đề tên M phía sau để xác nhận nội dung Mậu lấy trộm vàng và M trả vàng cho bà T1, có ghi tên M. Đến ngày 03 tháng 7 năm 2024, sau khi biết bị mất trộm vàng và biết M là người lấy trộm vàng trên nên chị Y đã làm đơn trình báo đến Công an xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Biết không thể che giấu được hành vi phạm tội của mình, ngày 04 tháng 10 năm 2024, M đã tự nguyện đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An đầu thú.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024 và ngày 07 tháng 10 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện T, tỉnh Nghệ An đã ra quyết định trưng cầu giám định và yêu cầu định giá tài sản; xác định giá trị số vàng Sầm Thị M đã chiếm đoạt ngày 25 tháng 01 năm 2024 là 49.500.000 đồng và ngày 15 tháng 02 năm 2024 là 48.763.000 đồng.

Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ 02 nhẫn tròn màu vàng do Sầm Thị M trả cho bà Nguyễn Thị T1 vào ngày 17 tháng 4 năm 2024; 01 USB nhãn hiệu Kiongstone bên trong chứa File âm thanh tên “Bản ghi mới 2.m4a” ghi âm cuộc nói chuyện qua điện thoại giữa bà T1 và M; 01 mảnh tờ giấy kẻ ngang có nội dung số vàng gia đình chị Y bị lấy trộm và nội dung Mậu trả 01 chỉ vàng vào ngày 17 tháng 4 năm 2024, trên có chữ ký đề tên “Mậu”. Hiện, 02 chiếc nhẫn vàng đã trả lại cho chủ sở hữu còn các vật chứng khác lưu tại hồ sơ vụ án.

Về dân sự: Bị cáo Sầm Thị M đã bồi thường thiệt hại cho vợ chồng anh Nguyễn Sỹ N và chị Đào Thị Y với số tiền 105.000.000 đồng, anh N và chị Y không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bản án Hình sự sơ thẩm số 21/2025/HS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Sầm Thị M phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt Sầm Thị M 02 năm tù; thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 04 tháng 10 năm 2024

đến ngày 13 tháng 10 năm 2024. Ngoài ra, Bản án còn tuyên án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025, bị cáo Sầm Thị M kháng cáo xin Tòa án cấp phúc thẩm được hưởng án treo. Tại phiên tòa, bị cáo Sầm Thị M giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Sầm Thị M, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo hưởng án treo. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Sầm Thị M 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo vê tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách 04 năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo Sầm Thị M không tranh luận về tội danh và điều luật áp dụng. Bị cáo sau khi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chấp hành tốt chủ trương, pháp luật của Nhà nước; đã bồi thường thiệt hại và được người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo Sầm Thị M đồng ý với ý kiến của người bào chữa và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Trong phần lời nói sau cùng, bị cáo trình bày đã nhận thức được hành vi của mình là sai, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Xét hành vi phạm tội của bị cáo Sầm Thị M: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản án sơ thẩm đã xét xử. Ngày 25 tháng 01 và ngày 15 tháng 02 năm 2025, lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của gia đình vợ chồng anh Nguyễn Sỹ N và chị Đào Thị Y, Sầm Thị M đã trộm cắp vàng của anh N và chị Y với tổng giá trị 98.263.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại, gây mất trật tự an ninh, an toàn xã hội. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo không kháng cáo về tội danh, chỉ kháng cáo xin được hưởng án treo.
  2. Xét kháng cáo của bị cáo Sầm Thị M, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị

cáo phạm tội nghiêm trọng, thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại và được người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; quá trình điều tra, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, áp dụng khi quyết định hình phạt.

Về kháng cáo xin hưởng án treo: Xét thấy, bị cáo Sầm Thị M được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; là người dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế nên đã thực hiện hành vi phạm tội một cách thiếu suy nghĩ, sau khi phạm tội, đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và có nơi cư trú rõ ràng. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, người bị hại tiếp tục có đơn đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo chuộc lại lỗi lầm, trở thành công dân tốt. Do đó, không cần thiết phải bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật Nhà nước, vừa đảm bảo tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo thành công dân có ích trong xã hội.

  1. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Sầm Thị M kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.
  2. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Sầm Thị M, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo.
  2. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Sầm Thị M 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (Bốn) năm về tội “Trộm cắp tài sản” tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 27 tháng 5 năm 2025).

Giao bị cáo Sầm Thị M cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo được hưởng án treo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong

việc giám sát giáo dục bị cáo, thông báo kết quả chấp hành án của bị cáo với Ủy ban nhân dân xã K có yêu cầu. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 của Luật Thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; bị cáo Sầm Thị M không phải nộp tiền án phí Hình sự phúc thẩm.
  2. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - TAND huyện Thanh Chương;
  • - VKSND, CA huyện Thanh Chương;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Chương;
  • - Phòng PV06, CA tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Châu Cường;
  • - Bị cáo Sầm Thị Mậu;
  • - Người bào chữa;
  • - Người bị hại;
  • - Lưu Tòa Hình sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Đoàn Thị Kiều Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2025/HS-PT ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 70/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Sầm Thị Mậu. Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger